Trí Tánh ĐHT: 100 Người Có Ảnh Hưởng Tâm Linh Nhất Thế Giới

 Ngày 1 tháng 3 năm 2011 vừa qua, nhà xuất bản Watkins Books tại London, Anh đã phát hành ấn phẩm Watkins Review số 26,  trong đó ban biên tập đã lập danh sách 100 nhân vật đang sống và có ảnh hưởng tâm linh lớn nhất trên thế giới. Ba năm một lần, Watkins Books lại cập nhật  danh sách để gửi đến 30,000 độc giả chọn lọc của nhà xuất bản.

Việc chọn lựa những tác giả và các giảng sư mà những đóng góp của họ trong lãnh vực tâm linh đã tác động rộng rãi trên thế giới, là một nỗ lực không đơn giản.

Khi lập danh sách này, Watkins Books đã căn cứ trên nhiều yếu tố mà ba yếu tố chính là:

–  Nhân vật đó hiện còn sống,

–  Nhân vật đó phải đóng góp đặc thù trong lãnh vực tâm linh và có tác động toàn cầu,

–  Tên (hoặc hoạt động) của nhân vật đó được rất nhiều người tìm kiếm trên Google (hiễn thị trong danh sách Nielsen Data quốc tế) và xuất hiện thường xuyên trong thế giới blogosphere.

Danh sách trong ấn bản 2011 có một số đặc điểm sau đây:

–  Về giới tính thì 76% là đàn ông và 24% là phụ nữ.

–  Tuổi trung bình là 67 tuổi. Lớn tuổi nhất là thiền sư Nhật bản Kyozan Joshu Sasaki, 104 tuổi, trụ trì một Thiền viện tại Mỹ. Trẻ nhất là tiến sĩ vật lý thiên thể học người Anh Jeff Foster, 30 tuồi, đã bỏ nghề và chu du khắp thế giới để xiển dương một cuộc sống “giác ngộ tâm linh.”

Ông Eckhart Tolle đứng đầu danh sách, người Canada, tác giả của 2 cuốn sách nổi tiếng Stillness Speaks (Sức mạnh của Tĩnh Lặng, đã được Thiền sinh Nguyễn Văn Hạnh dịch ra tiếng Việt), The Power Of Now (Sức Mạnh Của Hiện Tiền Phi Thời Gian – Hồ Kim Chung – Minh Đức biên dịch) và  A New Earth (Một Trái Đất Mới).

Không cổ súy cho một tôn giáo nào tuy có vận dụng một số phạm trù triết học Phật giáo, ông Eckart Tolle chỉ triển khai hiện tượng biến đổi của ý thức như một tỉnh thức tâm linh mà ông cho là bước tiếp theo trong quá trình tiến hóa của con người.

Nhân vật thứ nhì là Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, người Tây Tạng.

Nhân vật thứ ba là tiến sĩ Wayne W. Dyer, một chuyên gia Mỹ về kỹ thuật tư duy tích cực (positive thinking) và hiện đang diễn giảng Đạo Đức Kinh của Lão Tử.

Nhân vật thứ tư là Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

 

Nhân vật thứ năm là diễn giả và tác giả Mỹ gốc Ấn Độ Deepak Chopra. Ông nguyên là một bác sĩ sinh học nội tiết (endocrinologist), nhưng sau đó chuyển qua nghiên cứu và thực hành ngành y khoa lấy quan hệ giữa thân và tâm làm phương pháp điều trị. Các tác phẩm rất thành công của ông là  Ageless Body (Thân Thể Không Già), Timeless Mind (Tâm Thức Phi Thời Gian), và The Seven Spiritual Laws of Success (Bảy Định Luật Tâm Linh Để Thành Công).

Năm nhân vật tiếp theo trong Top-Ten của danh sách 100 vị là nữ tác giả Mỹ Louise Hay, nhà văn Brazil Paulo Coelho, nữ điều hợp viên chương trình đàm thoại truyền hình Mỹ  Oprah Winfrey,  triết gia Mỹ về tiến hóa tâm linh Ken Wilber, và nhân vật thứ mười là nhà nữ sản xuất truyền hình Úc Rhonda Byrne.

Ngoài ra, trong số 90 nhân vật còn lại của danh sách cũng có một số trường hợp đáng lưu ý:

Nhà làm phim Alejandro Jodorowsky ởChileđứng thứ 14. Những phim của ông thường mang nội dung tâm linh sâu sắc với một thông điệp xã hội rất tiền phong (avant garde) như  El Topo (1970), The Holy Mountain (1973) và  Santa Sangre (1989). Ông cũng đã thực tập thiền quán một thời gian dài.

Nhà cách mạng chống kỳ thị màu da Apartheid và trở thành tổng thống Nam Phi Nelson Mandela thứ 19.

Tác giả Mỹ John Gray đứng thứ 24. Ông là tác giả của 17 cuốn sách đào sâu mối quan hệ phức tạp giữa người và người, mà tác phẩm nổi tiếng nhất là Men Are From Mars, Women Are From Venus (1992)

Tổng Giám mục Anh giáo Desmond Tutu ở Nam Phi đứng thứ 28. Ông là khôi nguyên giải Nobel Hòa Bình 1984, nổi tiếng với lời tuyên bố: “Khi người da trắng đến, họ có cuốn Kinh thánh và chúng tôi có đất đai. Họ bảo chúng tôi nhắm mắt cầu nguyện Chúa. Khi mở mắt, chúng tôi có cuốn Kinh thánh, còn họ thì có đất đai của chúng tôi”.

Giáo hoàng Benedict XVI (Biển Đức thứ 16), tên đời là Joseph Alois Ratzinger trong danh sách), vị chủ chăn của giáo hội Công giáo La Mã, đứng thứ 34.

Tác giả Mỹ Dan Brown đứng thứ 42. Hai tác phẩm The Da Vinci Code và Angels and Demons, hư cấu về những âm mưu thâm cung bí sử của Giáo hội Công giáo La Mã, đã được dịch ra 28 thứ tiếng và tổng số ấn bản lên đến gần 100 triệu cuốn, chưa kể cả tỉ người đã xem hai cuốn phim phỏng theo truyện nầy.

Nữ giáo sư ngành tôn giáo tỷ giảo  người Anh  Karen Armstrong, đứng thứ 53. Bà chủ xướng hòa đồng tôn giáo trên thế giới. Là một nữ tu sĩ Công giáo cởi áo, bà rất khắt khe với Giáo hoàng và giáo hội Công giáo La Mã. Ngoài những tác phẩm viết về Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo,… bà đặc biệt nỗi tiếng với tác phẩm Buddha (2001), viết về cuộc đời của Đức Phật Thích Ca lịch sử, để tặng em gái của bà là một Ni sư tu theo Phật giáo Đại thừa.

Tác giả người Anh Stuart Wilde đứng thứ 66. Ông viết và thường đi thuyết trình về các đề tài Siêu hình học và Ý thức Nội tại. Ông đã viết 20 cuốn và được biết đến nhiều nhất là tác phẩm The Taos Quintet: Miracles, The Force, Affirmations, The Quickening

Lạtma Tây Tạng Sogyal Rinpoche đứng thứ 82. Ngài là sáng lập viên Hệ thống Mật viện Quốc tế Rigpa, gồm hơn 100 trung tâm trên 23 quốc gia. Ngài cũng là tác giả cuốn sách nỗi tiếng The Tibetian Book of Living and Dying, được dịch ra 30 thứ tiếng và phát hành trong 56 quốc gia.

Nói chung, nhìn vào các nhân vật được liệt kê, ta thấy đa số đều là những học giả và hành giả tìm về, hoặc chịu ảnh hưởng của, đạo học Đông phương, mà Phật giáo là dòng chảy chính. Dòng chảy đó đã được vận dụng như khuynh hướng chủ đạo để vừa giải quyết các vấn nạn tâm linh vừa đề bạt một con đường sống sinh động mà an bình trong thời đại hôm nay.

(Viết theo Watkins Review , 3/2011)

The 100 Most Spiritually Influential Living People

We’re delighted to share our début list of the 100 most spiritually influential living people, that was published in the Spring issue #26 of the Watkins Review.  Yes, we’ve taken up the not so simple task of naming the most popular authors and spiritual teachers, whose contribution in spirituality and spreading awareness is affecting us all.

We live in an age of lists – from groceries and obituaries to Facebook friends, resume facts, lists of city capitals and lottery numbers. Of course, lists that classify the past, are easier to compile than lists that attempt to predict the future. With the holy grail of sorting algorithms, the world is sure to be your oyster.

Lists help us organize, explore and perceive our environments. But are so many lists really necessary? It is very much in vogue to publish lists of people: Time Magazine publishes an annual list of the 100 people who most influence the world; Forbes publishes several lists including a Celebrity 100 list, the World’s 100 Most Powerful Women, and a list of 1000 Billionaires; Art Review’s Power 100 is an annual list of the worlds 100 most powerful collectors, artists, gallerists, etc…

The lists of lists of people, just keep going and going. However, the Watkins Review believes that an important list has been long overdue, and we are delighted to share with you our list of the 100 Most Spiritually Influential Living People. Lists of influential people contribute to the discourse and issues that each person represents, and the Watkins Review hopes that our list will nurture the debates surrounding contemporary spirituality.

There are several factors that were taken into account when compiling the list. Listed below are the main three:

1) The person has to be alive

2) The person has to have made a unique and spiritual contribution on a global scale

3) The person is frequently googled, appears in Nielsen Data, and highlighted in throughout the blogosphere

It’s interesting to think about the amount of times that a person is googled; in a sense, being googled is a form of digital voting, and illustrates just how often someone is being sought out.

1. Eckhart Tolle

2. Dalai Lama

3. Dr Wayne W. Dyer

4. Thich Nhat Hanh

5. Deepak Chopra

6. Louise L. Hay

7. Paulo Coelho

8. Oprah Winfrey

9. Ken Wilber

10. Rhonda Byrne

11. James Redfield

12. Neale Donald Walsch

13. Doreen Virtue

14. Alejandro Jodorowsky

15. Richard Bach

16. Alex Grey

17. Byron Katie

18. Masaru Emoto

19. Nelson Mandela

20. Bernie Siegel

21. Caroline Myss

22. Brian Weiss

23. Mantak Chia

24. John Gray

25. Gregg Braden

26. Stephen R. Covey

27. Marianne Williamson

28. Desmond Tutu

29. Mata Amritanandamayi

30. Philip Berg

31. Ervin Laszlo

32. Andrew Harvey

33. Don Miguel Ruiz

34. Joseph Alois Ratzinger

35.KrishnaDas

36. Drunvalo Melchizedek

37. Sai Baba

38. Jack Kornfield

39. Pema Chödrön

40. T.K.V. Desikachar

41. Esther & Jerry Hicks

42. Dan Brown

43. Z’ev Ben Shimon Halevi

44. Diana Cooper

45. Ram Dass

46. Andrew Weil

47. Satya Narayan Goenka

48. Jon Kabat-Zinn

49. Alan Moore

50. Dan Millman

51. Bruce Lipton

52. Peter Kingsley

53. Karen Armstrong

54. Judy Hall

55. Colin Wilson

56. Joscelyn Godwin

57. James Lovelock

58. Satish Kumar

59. Shakti Gawain

60. Elaine Pagels

61. Kyozan Joshu Sasaki

62. Gary Zukav

63. Erich von Däniken

64. David Deida

65. Oberto Airaudi ‘Falcon’

67. John Bradshaw

68. Jeff Foster

69. Patrick Holford

70. Andrew Cohen

71. Vladimir Megre

72. Thomas Cleary

73. Daniel Pinchbeck

74. Jonathan Goldman

75. Sonia Choquette

76. Seyyed Hossein Nasr

77. Mother Meera

78. Barefoot Doctor

79. Richard Bandler

80. Robert Bly

81. Adyashanti

82. Sogyal Rinpoche

83. Li Hongzhi

84. Sri Bhagavan

85. Rupert Sheldrake

86. John & Caitlín Matthews

87. Chogyal Namkhai Norbu

88. Kenneth Grant*

89. Stanislav Grof

90. James Hillman

91. Clarissa Pinkola Estés

92. Stephen Levine

93. Candace Pert

94. Barbara Ann Brennan

95. Coleman Barks

96. Robert Thurman

97. B.K.S Iyengar

98. William Bloom

99. Lynne McTaggart

Source: http://www.watkinsbooks.com/review/watkins-spiritual-100-list

Duyên Tiền Kiếp Giữa Ngỗng Và Nai?

Hình First Coast News WGRZ.

Một chuyện lạ đã được ghi nhận tại một nghĩa trang ở Buffalo, một thành phố nằm ở phía tây của tiểu bang New York. Nghĩa trang này có một con nai đực đang đứng bảo vệ một con ngỗng mái ấp trứng.

Trong những truyện phim hoạt họa dành cho trẻ em, người ta được nghe những câu chuyện về những con thú khác giống nhưng có thể làm bạn với nhau. Chẳng hạn như chuyện con nai Bambi chơi với chồn hương. Sự việc một con nai đực đứng canh gác để giúp một con ngỗng mái ở Buffalo có lẽ là một trường hợp Bambi có thật. Nói theo khoa học thì chưa ai hiểu tại sao con nai và con ngỗng lại có một mối quan hệ đặc biệt như vậy.

Theo tin của các đài truyền hình và nhật báo địa phương, kể từ ngày 4 tháng Tư cho đến nay con nai đã đứng canh gác gần một cái vạc lớn đựng tro cốt tại nghĩa trang Forest Lawn. Bên trên cái vạc này có một con ngỗng Canada đã đẻ trứng và đang ấp trứng.

Một viên chức thuộc cơ quan thú hoang đã đến quan sát và nói rằng con nai này đã thật sự đứng canh gác để bảo vệ con ngỗng. Các nhân viên của nghĩa trang đã khám phá công tác của con nai sau khi họ bị nó ngăn chặn trong lúc muốn đến gần để xem con ngỗng.

Một nhân viên đã toan tính cầm lưới để bắt ngỗng. Ông ta phải dừng chân sau khi thấy con nai tiến đến gần như muốn tấn công hoặc húc ông té nhào.

Tạm thời thì ban quản lý nghĩa trang chưa muốn quấy rầy hai con vật. Tuy vậy mọi người đều thắc mắc rằng tại sao con nai đực từ trong rừng lại đến nghĩa trang này để bảo vệ một con ngỗng mái.

Hai con vật đều hoàn toàn khác giống. Không ai biết con nai sẽ làm gì khi thấy những quả trứng nở ra những ngỗng con trong vài tuần sắp tới.

Từ quan điểm tâm linh, có người cho rằng trong tiền kiếp hai con này đã quen nhau, có thể cùng là loài người, nên kiếp này chúng tìm đến nhau mặc dù mỗi con đã mang một thể xác khác hẳn nhau.

Có giải thích nào khác?

Thích Trí Siêu: Sợ Ma

(trích “Dòng Đời Vô Tận” xuất bản 2010, trang 114-121)

Thượng Tọa Thích Trí Siêu trong một buổi giảng tại Quận Cam do nhóm Đuốc Tuệ tổ chức đầu tháng 10, 2010.

Con người ta có nhiều cái sợ, như sợ già, sợ bệnh, sợ chết, sợ vợ hay chồng bỏ, sợ thất nghiệp, sợ nghèo, sợ đói, sợ nhiều thứ, v.v… Trong những cái sợ này có cả sợ ma. Không phải chỉ có con nít mới sợ ma mà nhiều người lớn cũng sợ ma.

Muốn hết sợ ma thì cần phải suy tư về thực chất của sợ và ma.

Sợ ma là một ảo tưởng sai lầm do tâm non yếu, thời thơ ấu thường bị người lớn vô tình (và dại dột) hăm dọa, đầu độc. Thí dụ như đến tối bảo con nít đi ngủ mà chúng không nghe thì dọa nếu không đi ngủ thì ma (hay ông kẹ, ngáo ộp) sẽ hiện ra bắt đi. Rồi khi màn đêm xuống thì kể chuyện ma, nói trong bong tối có ma, ghê lắm rồi bỏ chạy, làm cho tâm trí non nớt của đứa trẻ bị khủng hoảng, nó in đậm ma là một hình ảnh ghê rợn, dữ dằn cùng với bóng đêm. Những người lớn này (cha mẹ, dì cô, chú bác, ông bà) vô tình đã bỏ một chương trình sợ ma vào tâm đứa trẻ. Sau này lớn lên, dù 50 hay 60 tuổi vẫn còn sợ ma y chang như hồi con nít. Có những người vì sợ ma mà phải lập gia đình, cưới đại một người mà mình không thương yêu để khỏi phải sống một mình. Vì sợ ma mà người ta trở thành nô lệ, sống bám vào một người khác, không bao giờ dám ở nhà một mình, dù là ban ngày. Vì sợ ma mà tối ngủ bật đèn sáng trưng suốt đêm, có khi còn trùm mền kín mít dù trời nóng chảy mỡ. Sợ ma là một loại bệnh tâm thần khiến cho người bệnh khổ sở không ít.

Nói theo khoa học điện toán, “sợ ma” là một chương trình phá hoại (malware) đã bị cài đặt trong tâm, chỉ cần ai nhắc đến chữ “ma” thì tức khắc chương trình “sợ ma” nhảy ra hoạt động ngon lành. Nói theo danh từ Phật giáo thì “sợ ma” là một đại vọng tưởng, chỉ cần tưởng tới chữ “ma” thì tập khí “sợ” khởi lên ngay lập tức. Như vậy “sợ ma” là do cái tưởng sai lầm (thuộc tưởng uẩn) làm việc quá mạnh, lấn át cả lý trí (thức uẩn) và tư duy (hành uẩn). Khi tưởng tới chữ “ma” thì người đó mất tự chủ, chân tay bủn rủn, mặt mày tái mét, tim đập hồi hộp, chỉ chực bỏ chạy hoặc té xỉu.

Thuở xa xưa, người tiền sử thiếu văn minh, không hiểu các luật thiên nhiên, mỗi khi thấy sấm sét thì “tưởng” đó là thần sét (thiên lôi), mỗi khi thấy gió mạnh thì “tưởng” đó là thần gió, khi thấy động đất thì “ tưởng” đó là thần đất, từ đó họ “tưởng” ra đủ loại thần, thần nước, thần cây, thần lửa, thần bò, thần chó, v.v… và cúng tế các loại thần này.

Ngày nay, với khoa học văn minh, người ta hiểu rằng đó chỉ là những hiện tượng vật lý, không có “ông thần” nào trong đó cả.

Vậy thì “ma” có hay không?

Chữ “ma” theo nghĩa bình dân, đó là những người chết hiện về. Đa số đều nghĩ người chết được chôn hay thiêu thì phải biến mất, không bao giờ còn nữa, nếu hiện ra là một điều quái gở, bất bình thường và đáng sợ.

Theo Phật giáo có sáu loại chúng sinh, hay sáu loại cảnh giới: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, Atula, trời. Trong sáu loại này, con người với mắt thịt chỉ nhìn thấy được hai loại là người và súc sinh (thú vật), còn bốn loại khác mắt trần không thể nhìn thấy, trong đó có ma được xếp vào loại ngạ quỷ. Nói cách khác là tần số rung động (vibration rate) của họ khác với loài người.

Theo vật lý lượng tử, con người và tất cả sự vật đều là những năng lượng (energy) được cấu tạo bởi các nguyên tử (atom) và điện tử (electron). Vì là năng lượng nên luôn  rung động. Khi rung động dưới một tốc độ hay tần số nào đó thì các năng lượng này cô đọng lại thành một hình sắc. Thí dụ ban đêm ta đốt một bó đuốc cầm trên tay và đứng yên  thì người ở xa sẽ thấy một đốm lửa. Nhưng nếu ta cầm bó đuốc quay thật nhanh thì người ở xa sẽ thấy đó là một vòng lửa. Cũng thế, các loại chúng sinh mà ta gọi là “vô hình”,  họ có thân sắc được cấu tạo bởi những nguyên tử vi tế hơn và rung động khác với tần số loài người nên ta không trông thấy được. Không phải vì mắt không thấy mà cho là không có. Cũng như ngày nay, các làn vô tuyến của radio, tivi, điện thoại di động, giăng bủa chằng chịt khắp nơi, nhưng chúng ta đâu có thấy. Chỉ khi nào mở radio, tivi, vặn trúng tần số thì mới thấy hình và âm thanh.

Con người gồm có hai phần: vi tế và thô kệch. Phần thô đó là thân xác bằng xương bằng thịt. Phần vi tế là phần vô hình, được gọi dưới nhiều danh từ như linh hồn, tâm linh, tinh thần. Gọi là “vô hình” bởi vì mắt trần không trông thấy, chứ thật ra nó vẫn có hình tướng, một loại hình tướng vi tế, vì nó là một năng lượng sinh động. Phần thô kệch có thể ví như bóng đèn, phần vi tế “vô hình” ví như điện. Một người sống ví như bóng đèn có điện chiếu sáng. Khi bóng đèn bị bể thì dòng điện không biến mất, nó chỉ ẩn tang trong trạng thái vô biểu (non-manifest) hoặc đi vào những đồ điện tử khác như radio, tivi, máy tính, máy giặt, tủ lạnh, v.v…

Cũng thế, khi một người tắt thở thì tâm (hay linh hồn) sẽ lìa khỏi thể xác (physical body), tiếp tục hiện hữu ở trạng thái vi tế và đi tìm một cái xác khác để tiếp tục biểu hiện, trong đạo gọi là tái sinh hay đầu thai.

Ma và người là bà con, chỉ khác nhau ở chỗ còn thể xác thô kệch hay không. Người là một chúng sinh có thể xác bằng xương thịt, còn gọi là người dương. Ma là một chúng sinh không còn mặt áo bằng xương thịt, còn gọi là người âm, nhưng họ vẫn còn hiện hữu với một sắc thân vi tế, gọi là thể “vía” (astral body).

Sau khi hiểu được “sợ” là một vọng tưởng sai lầm, hay một chương trình bệnh hoạn, và “Ma” là một người âm, thì chúng ta cần phải sửa lại bằng cách gắn vào tâm một chương trình đối lập, giống như muốn trừ virus trong máy tính thì phải gắn chương trình anti-virus.

Có những phương pháp tự kỷ ám thị (auto-suggestion) dạy người ta lặp đi lặp lại một câu nói, thí dụ như “tôi không sợ ma” để đối trị lại “tôi sợ ma.” Nhưng phương pháp tự kỷ ám thị này không phải lúc nào cũng có hiệu quả.

Sự hoạt động của tâm thức gồm có tàng thức (tiềm thức), mạt na thức (vô thức), và ý thức, không phải đơn giản muốn nhồi sọ vài lần là  xong. Sự nhồi sọ cần nhiều thời gian may ra mới có hiệu quả. Riêng đạo Phật không hưởng ứng phương pháp nhồi sọ, mà dạy tư duy, quán chiếu, để hiểu rõ vấn đề theo chiều sâu thì mới có sự thay đổi thật sự.

Thông thường những người có tánh sợ ma là vì họ tin ma có thật và có thể làm hại mình. Nếu thực sự muốn hết sợ ma thì cần sửa lại chương trình là tin ma có thật nhưng không thể làm hại được mình.

Trước tiên nên cài vào tâm một câu hỏi mới: “Tại sao tôi không còn sợ ma nữa?” và ráng tìm câu trả lời. Câu hỏi này giống như một công án. Một công án thường vô lý và khó tin, giống như công án: “Thế nào là mặt thật của ta khi cha mẹ chưa sinh ra?” Chưa sinh ra thì làm sao có mặt mũi? Hoặc “Thế nào là tiếng vỗ của một bàn  tay?” Một bàn tay mà làm sao vỗ được? v.v…

Với một người sợ ma và tự hỏi “Tại sao tôi không còn sợ ma nữa?” thì quả thật là vô lý. Câu hỏi này có hai công năng: một là nhồi sọ theo kiểu tự kỷ ám thị “tôi không còn sợ ma nữa,” hai là bắt tâm thức phải làm việc tìm câu trả lời. Càng moi óc tìm câu trả lời thì nó sẽ tác động sâu vào tiềm thức. Khi tâm lo tìm câu trả lời “Tại sao tôi không còn sợ ma nữa” thì vô tình nó đã chấp nhận là nó “không còn sợ ma nữa,” như thế là đã đi được nửa đường rồi.

Tìm ra một câu trả lời là phá trừ cái sợ được một phần. Tìm ra được hai câu trả lời là bớt sợ được hai phần. Nếu bạn là người sợ ma thì chính bạn phải tự tìm hiểu để trả lời, như thế mới có hiệu quả, nhưng ở đây xin giúp bạn một vài câu khởi đầu.

Tại sao tôi không còn sợ ma nữa? Tại vì:

Ma có thật, nhưng không có thể xác vật chất nên không bóp cổ tôi chết được.

Ma cũng là một con người, một chúng sinh, sống trong cảnh giới khác.

Ma thực sự không phải là ma, mà chỉ là…

Ma không phải lúc nào cũng hiện ra. Họ chỉ hiện ra khi nào có gì u uẩn cần sự giúp đỡ của người sống…

Thấy được ma là một điều hiếm có, không phải ai cũng có dịp may như vậy…

Nếu ma hiện ra thì chỉ hiện trong nháy mắt rồi biến mất, đâu có làm gì được ai…v..v…

Khi máy tính bị virus tấn công thì có rất nhiều chương trình chống virus như Norton, McAfee, Panda, BitDefender, AVG, Avast, Antivir, v.v… Cũng như thế, có rất nhiều cách để trị bệnh “sợ ma,” trên đây chỉ là một trong nhiều cách.

Một cách đơn giản khác là không dùng danh từ “ma” nữa, mà thay vào đó bằng “người âm” hay “linh hồn” (spirit). Bởi vì chữ “ma” đã thấm quá nhiều năng lượng của sự sợ hãi do “tâm thức cộng đồng” bơm vào. Khi nói đến chữ “ma” thì tức khắc nó khởi dậy trong tâm một cái gì ghê rợn, đáng sợ. Bây giờ, mỗi khi nghe ai nói hay nhắc tới chữ “ma” thì chúng ta phải nghĩ ngay đó là “ người âm” hay “chúng sinh vô hình.”  Làm được như vậy chính là đang sửa chương trình “sợ ma”.

Nếu bạn là người sợ “ma” mỗi khi nghe ai nhắc tới chữ “ma” thì hãy thử nói thầm chữ “ ma” bằng tiếng Pháp như “ Fantôme” hoặc tiếng Anh “Ghost,” hay tiếng Đức “Geist,” xem cái sợ tăng hay giảm? Bạn sẽ thấy cùng có nghĩa là “ma” nhưng khi nói tiếng khác thì cái sợ sẽ bớt đi nhiều, bởi vì người Âu Mỹ không sợ ma nhiều bằng người Á Châu.

 Ngoài việc sửa chương trình trong tâm ý, bạn cần phải sửa chương trình ngoài thân, tức là hành xử như thể mình “ không còn” là người sợ ma nữa. Thí dụ như đi vào bóng tối dù chỉ một hai giây, hoặc nhìn vào bóng tối xem có thấy ai không, hoặc ngồi trong bóng tối vài phút rồi tăng dần lên từ từ, hoặc nghe ai sợ ma thì đừng hùa theo mà phải “giả bộ” anh hùng, v.v… Nói cách khác, bạn hãy giả bộ đóng vai mình là người không còn sợ ma nữa. Ban đầu giả bộ đương nhiên rất khó, nhưng cứ giả bộ hoài thì sẽ thành.

Ngoài ra các bạn nên tìm đọc sách về thới giới bên kia cửa tử, để hiểu rằng “người âm” không có gì đáng sợ, mà ngược lại, họ cũng giống y hệt như mình và có lúc họ cần liên lạc với mình để cầu sự giúp đỡ, trong khi đó mình lại đi sợ họ một cách vô lý vì thiếu hiểu biết.

Tỳ kheo Thích Trí Siêu

Vicki Mackenzie: Tái Sinh Ở Phương Tây (Reborn in the West)

(Trích: Đặc San Hoa Nghiêm, Mừng Xuân Tân Mão, Phật lịch 2554 – 2011)

Tái Sinh Ở Phương Tây (Reborn in the West)
của Vicki Mackenzie
Nguyên Ngọc chuyển Việt ngữ

Vicki Mackenzie

Ghi chú: Về tác giả Vicki Mackenzie, bà chào đời năm 1947 tại Anh, con của một sĩ quan hải quân,, lớn lên tại Úc, tốt nghiệp đại học Queensland University và làm ký giả cho báo nhật báo Sun tại Sydney. Sau này bà di chuyển qua Luân Đôn, viết cho các nhật báo như Daily Sketch, Daily Mail, Sunday Times, Observer, Daily Telegraph, Sunday Telegraph, Daily Express, Mail on Sunday và đóng góp cho nhiều tạp chí quốc gia.

Vào năm 1976, bà nghỉ phép một tháng để dự một khóa thiền tại Nepal. Từ đó cuộc đời bà chuyển hướng. Bà muốn dùng ngòi bút để viết báo và viết sách nhằm mang Phật giáo và thuyết luân hồi đến công chúng Tây Phương.

Bà đã viết những cuốn Reincarnation: The Boy Lama; Reborn in the West: The Reincarnation Masters (bài Hazel Denning nằm trong cuốn này); A Young Man of The Lama: A Tale Of Drugs, Hot Sex, and Violence in The Fall Of Tibet; Cave in the Snow: A Western Woman’s Quest for Enlightenment (hồi ký của Tenzin Palmo); Why Buddhism?: Westerners in Search of Wisdom; Child of Tibet (viết chung với Sonam Yangchen).

Giáo Sư Hazel Denning

Giáo sư Hazel Denning

Vào một buổi chiều lười biếng ở Sydney, tôi mở Tivi và thấy chương trình Oprah Winfrey đang tranh luận về kiếp trước kiếp sau, cuộc tranh luận rất sôi nổi. Đây là một “talk show” của Mỹ. Khách mời là Dr. Hazel Denning, bác sĩ phân tâm học, là một phụ nữ có tuổi, thông minh, ăn nói rất lưu loát và là sáng lập viên của hội Association for Past life and Therapies (Hội Nghiên cứu kiếp trước kiếp sau để ứng dụng vào việc chữa trị). Là một người tiền phong trong lãnh vực này, bà đã đi nhiều nơi trên thế giới thuyết giảng về luân hồi.

Ngoài tài ăn nói rõ ràng lưu loát về đề tài luân hồi, về vấn đề kiếp trước ảnh hưởng đến kiếp hiện tại, bà còn là một bác sĩ tâm lý trị liệu rất giỏi. Tôi nghĩ công trình nghiên cứu của bà về luân hồi vào khoa tâm lý trị liệu ở Tây phương sẽ là những tài liệu quý báu cho tôi, nên tôi tìm cách hội kiến với bà.

Máy bay hạ cánh xuống một phi trường nhỏ ở miền Nam California. Giáo sư Denning thân hành ra đón tôi. Người nhỏ thó, lưng thẳng đi đứng nhanh nhẹn tuy đã ngoài tám mươi. Bà ung dung lái xe về nhà ở Riverside, nơi sản xuất cam nổi tiếng của Cali. Trong căn phòng làm việc của bà treo đầy bằng cấp, chứng chỉ: hai bằng tiến sĩ, hai bằng thạc sĩ, bằng cấp cử nhân và rất nhiều văn kiện chứng thực bà rất uyên bác về khoa thôi miên và khoa cận tâm lý (Parapsychology).

Trong hai ngày tôi ở lại nhà bà, bà kể cho tôi nghe về công việc của bà và giải thích lý do bà chọn công việc này. Từ hồi nhỏ, giáo sư Denning hay thắc mắc muốn tìm hiểu “tại sao” về việc này việc nọ, tại sao con người phải chịu khổ đau. Bà không tin đó là ý Chúa (God). Bà cho là tin như vậy có vẻ không hợp lý.

Năm ngoài hai mươi tuổi, tình cờ bà được đọc một cuốn sách về luân hồi. Bà vui mừng,”Ôi chao! Tôi đã tìm được giải đáp cho những thắc mắc của tôi rồi. Tôi quá đổi vui mừng và suy nghĩ: cuối cùng thì tôi cũng tìm được một lời giải hợp lý, có thể lý giải được tất cả những bất công của thế gian”.

Hồi đầu thì bà chưa tin lắm. Bà tìm đọc những tài liệu xưa để xem những thức giả đời trước nghĩ sao về luân hồi, và khám phá ra rằng tất cả những tôn giáo lớn trên thế giới đều tin luân hồi kể cả Thiên chúa giáo cho đến năm 533 sau Tây lịch, thì một ông vua La Mã và bà hoàng hậu cấm không cho nói đến luân hồi nữa. Có hai giáo hoàng bị giết vì muốn giữ đoạn nói về luân hồi trong kinh sách. Ít người biết đến dữ kiện này. Cũng không mấy ai biết chuyện những cha cố ngày xưa như cha Origin và ông thánh Augustin đều tin có luân hồi. Bà nói, “Vậy những người nào nói rằng tin có luân hồi là trái với giáo điều Thiên chúa giáo là không biết những chuyện này”. Bà càng thích thú hơn khi khám phá ra những nhân vật nổi tiếng từ cổ chí kim đều tin có luân hồi, từ Plato, Aristotle, Socrates đến Henry Ford, Gladstone, Thomas Edison, đại tướng Patton và nhiều người khác nữa. Bà áp dụng những hiểu biết về luân hồi vào khoa chữa bệnh tâm thần để tìm hiểu nguyên do sâu xa do đâu mà bệnh nhân dường như sống ở một thế giới khác, hay có nhiều sợ hãi vô lý (phobia).

Tôi nóng lòng muốn biết giáo sư Denning làm sao dung hòa được hai vai trò có vẻ trái ngược, vai trò của một bác sĩ tâm thần và vai trò của một người dùng thuật thôi miên đưa bệnh nhân trở về kiếp trước. Làm sao bà có thể chấp nhận lối giải thích của các bác sĩ tâm lý trị liệu hiện nay dùng chữ nghiệp (karma) để giải thích rằng những gì xảy ra trong đời này đều do nghiệp chướng đương sự đã tạo nên từ nhiều đời trước.

Giáo sư Denning không tin môi trường sống là tác nhân chính ảnh hưởng đến cách hành xử của một người. Bà công nhận hoàn cảnh bao quanh đời sống cũng đóng một vai trò khá quan trọng nhưng không phải là yếu tố chỉ huy. Theo bà thì mục đích của đời sống ở thế gian là để tu tâm hướng thượng. Một người tái sanh ở lại cõi trần là để thanh toán, thành tựu những gì mình làm dang dở trong những kiếp trước. Bà nói có những đứa trẻ sanh ra với một bản tánh yêu đời, đứa khác thì hay cáu giận, tức là mang theo chủng tử của kiếp trước. Theo bà thì số phận (destiny) của mỗi người không thể thay đổi được những phước báu của cha mẹ hay môi trường chung quanh có thể làm cho đời sống của người ấy thoải mái hơn hay khó khăn hơn.

Vì thế giáo sư Denning quyết định trở nên một nhà thôi miên chuyên nghiệp. Bà muốn dùng thuật thôi miên đưa bệnh nhân trở về sống lại kiếp trước của mình. Bà rất cẩn trọng, tỉ mỉ và trung thực trong công việc này. Bà không tìm cách khống chế tư tưởng của bệnh nhân. Bà nói ngày trước trong khoa thôi miên người ta thường dạy phương pháp gợi ý cho bệnh nhân (post-hypnotic suggestion) dùng những câu như “Không được ăn thức ăn này. Thức ăn này ghê lắm v.v…”. Tôi không dùng phương pháp ấy, trái ngược với nguyên tắc của tôi. Tôi tìm được cách riêng của tôi mà không cần khống chế tâm ý của bệnh nhân. Vì thế tôi muốn dùng cụm từ “đổi đời” (altered state) thay vì hai chữ thôi miên”.

 Năm 1980 bà lập hội “Association for Past Life Research and Therapies” và vui mừng thấy hội phát triển nhanh hơn dự tính, vì số người tin và muốn tìm hiểu luân hồi ngày càng đông. Bà khẳng định rằng khoa hướng dẫn bệnh nhân nhớ lại kiếp trước (Past Life Therapy) trở nên một dụng cụ hữu hiệu trong khoa tâm lý và y khoa toàn diện – chữa trị cả thân và tâm. Đường hướng này không những phát triển nhanh ở Mỹ mà còn lớn mạnh ở các nước khác trên thế giới. Bà được mời đi nói chuyện nhiều lần ở Á châu và ở trường đại học Ultrecht của Hòa Lan, một trường đại học xưa nhất, mà cũng là trường đại học đầu tiên có giảng dạy môn cận tâm lý (parapsychology).

Ở Mỹ những người tìm đến với Dr. Denning gồm đủ mọi thành phần xã hội. Bà dùng phương pháp thông thường trước. Nếu không có kết quả thì bà đưa bệnh nhân trở về kiếp trước để tìm hiểu nguyên nhân. Bệnh nhân của bà gồm đủ mọi hạng người, mục sư có, chuyên viên có, rất nhiều nhà giáo, nhiều quân nhân và các thành phần khác. Thường thường ai cũng muốn hỏi. “Mục đích của đời sống là gì?”, “Tôi đang làm gì ở đây”, “Tôi trở lại lần này để làm gì?”

Bệnh nhân của bà thường ở lứa tuổi ba mươi đến bốn mươi, nhưng có một cô bé chín tuổi xin cha mẹ đến gặp bà để tìm hiểu tại sao cô sợ máu lắm. Mới chín tuổi nhưng cô rất chững chạc. Vừa thiếp đi cô bé thấy kiếp trước của mình là một ông già đang giẫy chết vì bệnh tim. Bỗng dưng cô la lên, “Không, tôi không phải chết vì bệnh mà vì tôi quá đau khổ”. Rồi cô bắt đầu kể đến ông già – tức là tiền thân của cô – đưa vợ đi ăn tiệm. Một tên cướp vào tiệm bắn chết nhiều người trong đó có vợ ông. Cô thấy người “vợ” chết trong vũng máu – ấn tượng hãi hùng đó theo thần thức qua đến đời này. Thêm vào đó là mặc cảm tội lỗi đã không cứu được người “vợ” của mình ray rức hành hạ cổ, bà kết luận.

 Quan điểm của giáo sư Hazel Denning về vấn đề này rất rõ ràng vì bà chứng kiến hàng ngàn bệnh nhân đã đổi đời, bà thấy rõ bao nhiêu thảm cảnh trong nhiều kiếp của họ và triển khai riêng lý thuyết của bà. Cuộc đàm thoại sau đây [giữa Vicki Mackenzie với giáo sư Denning], vì vậy, không những có giá trị về mặt thông tin mà còn rất thù vị và hào hứng.

*

Vicki Mackenzie: Tại sao lại có hiện tượng tái sanh?

Hazel Denning: Khi đưa một người trở về kiếp trước và tìm hiểu tại sao đương sự chọn tái sanh vào gia dình này, và mục đích của họ trở lại thế gian để làm gì thì ai cũng có câu trả lời tương tự: “Quả thật tôi không muốn trở lại thế gian chút nào. Ép mình vào cái xác phàm như đi vào tù, ngột ngạt lắm”. Khi tôi hỏi lại: “Vậy tại sao ông/bà lại trở về, có ai bắt mình ở lại đâu?” thì câu trả lời luôn luôn là: “Vì thế gian là một trường học để rèn luyện nhân phẩm của mình. Muốn trau dồi tâm linh, muốn hướng thượng thì phải trở lại thế gian. Mà thật tình tôi muốn tu tâm nên tôi phải trở lại thế gian này”. Đó là câu trả lời tôi ghi lại.

 Vicki Mackenzie: Theo kinh nghiệm của bà thì người ta trở lại thế gian này bao nhiêu lần?

Hazel Denning: Vô lượng kiếp, cho đến khi họ học hỏi thành tựu được những điều mong muốn. Ngay cả trong đời hiện tại này có người phải mất nhiều năm mới thấy rõ ý nghĩa của những chướng ngại khó khăn xảy ra cho mình. Có một bà khi đến phòng mạch lần đầu tuyên bố rằng, “Tôi đến đây muốn hỏi về tình yêu lứa đôi”. Trả lời thế nào với bà này? Là bác sĩ chuyên môn về khoa tâm lý, tôi không thể nói bà cứ yêu đi rồi sẽ được yêu. Bà vẫn đến phòng mạch nhưng không thường xuyên. Mãi đến mười tám năm sau bà mới tìm ra “chân lý”. Trong thời gian không gặp mặt, bà có một đời chồng, ly dị, ăn ở với một ông khác, lấy chồng lần thứ hai, rồi cũng ly dị, ăn ở với năm, sáu ông khác nữa cho đến một hôm bà không chịu đựng được cảnh sống một mình nữa và cương quyết đi gặp tôi mỗi ngày cho đến khi nào tìm được nguyên nhân tại sao bà không thể chung thủy với một người. Cuối cùng thì bà thấy kiếp trước bà là con gái của một gia đình giàu có ở Hy Lạp. Khi chừng mười bốn tuổi, cô bé yêu cậu người làm cùng tuổi. Khi biết được, cha cô nổi trận lôi đình đày người yêu của cô ra một hòn đảo và bán cô cho một người đàn ông lớn tuổi. Quá đau buồn uất ức, cô tự tử chết. Trước khi chết, cô nguyện rằng. “Tôi thề sẽ không bao giờ, không giờ thương yêu ai nữa”.

Qua bao năm kinh nghiệm với công việc này, tôi thấy tư tưởng hay ý nguyện cuối cùng trước khi chết, nếu là tiêu cực sẽ theo người đó qua kiếp sau. Thí dụ nếu mình chết với lòng giận dữ, với tâm thù hận thì kiếp sau mình phải tu tâm dưỡng tánh để rửa lòng, để xả bỏ những thù hận của kiếp trước.

Trở lại chuyện bà khách. Sau khi biết tiền kiếp của mình, bà gặp được một người chồng tử tế và có hai đứa con. Bà đang hụp lặn trong hạnh phúc mà trước đây bà không thể tưởng tượng có ngày bà có thể được hưởng.

Sau khi chứng kiến câu chuyện bà này, tôi nghiệm rằng có nhiều người không thể một sớm một chiều mà tìm được lời giải. Họ cần phải trải qua nhiều biến cố nữa trước khi thấy cái nghiệp của mình. Và câu chuyện này cũng giúp tôi đi đến kết luận rằng mình không thể tự dối lòng. Cho đến khi mình thấy được cái nhân của đời trước, mình mới có thể giải quyết cái quả của đời này. Nhiều khi phải đi sâu vào nhiều đời trước mới thấy được cái “nhân” chính đang chi phối đời sống hiện tại.

Vicki Mackenzie: Có những người đa nghi cho rằng bệnh nhân tưởng tượng ra những hình ảnh, thêu dệt nên những câu chuyện trong tiềm thức của họ để biện minh cho những đau buồn ưu não của họ?

Hazel Denning: Nếu quả đúng như vậy thì khoa tâm lý học phải giúp được bệnh nhân giải quyết mọi ẩn ức của họ chứ. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Có nhiều bệnh nhận của tôi theo khoa tâm lý trị liệu trong nhiều năm mà không ăn thua gì.

Vicki Mackenzie: Bà có cho rằng chính mình tự chọn đời sống của mình không?

Hazel Denning: Đúng vậy. Để tôi kể cho cô nghe một chuyện rợn tóc gáy. Một người đàn bà đến nói với tôi rằng: “Mẹ tôi đang hấp hối, cha tôi thì chết rồi. Cả cha lẫm mẹ tôi bầm dập sờ mó tôi hồi tôi mới ba tuổi cho đến năm tôi mới mười ba tuổi”. Khi thiếp đi, bà sống lại cảnh tượng bị cưỡng hiếp hồi còn bé và la lên, “Cha ơi đừng, đừng làm con đau!” và bà nói tiếp liền “Tôi muốn tha thứ cho mẹ tôi trước khi bà chết nhưng tôi thấy khó tha thứ quá, tôi thù ghét cả cha lẫn mẹ”.

Nếu một người muốn sẵn sàng tha thứ, muốn quên hận thù cũ thì người đó đã được một sự chuyển hóa tâm linh cao và có thể hóa giải được. Nhưng nếu người nào nói ra rằng, “Đừng nói đến chuyện tha thứ những quân dã man đó, Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho họ. Tôi thù ghét họ”. Thì đừng tìm cách giúp họ tha thứ vì tâm họ chưa sẵn sàng.

Đối với bà này, tuy bà nói sẵn sàng tha thứ cho cha mẹ, nhưng tôi nghĩ “Làm sao tôi có thể giúp bà ta tha thứ cho người cha, người mẹ đã làm những chuyện ghê tởm như thế đối với con mình”? Tôi bức rức, dằn vặt mãi và cuối cùng chính bệnh nhân đã giúp tôi tìm câu giải đáp. Bà thấy kiếp trước, thời Đức Quốc Xả, bà là một đứa trẻ bụi đời, sống lang thang đầu đường xó chợ và đã giết chết một đứa trẻ khác. Sau đó họ bị bắt vào Auschwitz, một trại giam người Do Thái, và bắt phải làm công việc kiểm soát những đứa trẻ Do Thái bị giết đã chết hẳn chưa. Lúc đầu công việc không làm bà phiền hà mấy, nhưng ngày lại ngày nhìn bao nhiêu xác trẻ con, bà chịu không được nên đã bỏ trốn và bị bắn chết. Bệnh nhân nói thêm rằng, “Đời sau, khi tái sanh, tôi muốn cha mẹ tôi hành hạ tôi để tôi trả nghiệp cho mau. Vì vậy tôi phải cám ơn hai vị này đã giúp tôi trả nghiệp báo”.

Vicki Mackenzie: Có bao giờ bà chứng minh được những mẫu chuyện tiền thân này thật sự xảy ra không?

Hazel Denning: Có chứ. Tôi vẫn để tâm theo dõi mỗi khi có dịp tốt. Thí dụ trường hợp một thân chủ nhất định không cho các con đi coi đoàn biểu diễn của gánh xiếc. Bà biết cấm đoán như vật thật là vô lý nhưng bà không thể làm gì khác hơn. Khi được đưa trở về kiếp trước thì bà thấy chính bà là “con mụ mập” (the fast lady) của một gánh xiếc và bà ghét cay ghét đắng vai trò của mình. Bà nhớ cả tên người đàn bà mập ấy và cả tên thành phố nữa. Có một bệnh nhân khác có mặt hôm đó biết thành phố này. Ông tình nguyện sẽ tìm đến xem thì quả nhiên đầu thế kỷ 20, ở thành phố đó có một bà mập tên đó đã theo đoàn hát xiếc kiếm ăn như lời bà kia tả lại. Trong đời hiện tại bà này cũng mập.

Một bệnh nhân khác nhớ lại kiếp trước bà là một phú thương đàn ông bị chết chìm theo chiếc tàu Titanic. Bà nhớ tên tuổi của người đàn ông này. Về sau tìm xem sổ sách thì quả nhiên người đàn ông ấy là hành khách trên chiếc tàu Titanic. Bà kể khi nhìn thấy tên trong sổ bà rùng mình ớn lạnh!

Ngoài những chứng cớ cụ thể này, những chứng cớ cho thấy những chuyện tiền thân mà các thân chủ tôi nói ra là có thật, và nó rất hợp tình hợp lý với bối cảnh riêng của từng người. Nhờ đó họ có thể đổi đời, có thể thoát được những ray rứt, những sợ hãi vô lý làm xáo trộn đời sống hiện tại của họ.

Vicki Mackenzie: Có ai tỏ ra có mặc cảm tội lỗi khi nhìn thấy những việc xấu họ đã làm trong những đời trước?

Hazel Denning: Không hẳn như thế sau khi họ hiểu mục đích của sự tái sanh và duyên nghiệp. Tôi giải thích cho họ thấy rằng những chuyện xảy ra trong quá khứ không quan trọng mấy. Quan trọng chăng là những gì mình học hỏi được từ những biến cố ấy, và dường như đây mới là nguyên tắc căn bản.

Có một trường hợp rất lạ lùng. Một bệnh nhân vừa bước vào phòng mạch là ngồi phịch xuống ghế, đấm mạnh hai tay vào thành ghế và la lớn, “Tôi ghét Chúa! Jesus Christ là một kẻ lừa đảo! Tôi đã cố gắng làm hết mọi thứ, đã đi tìm thầy chuyên môn, đã học hết kinh Thánh mà vẫn không thay đổi gì được cuộc sống của tôi. Tôi khổ quá!” Bà gặp toàn chuyện xui. Rờ tới cái gì thì hỏng cái đó mặc dù bà là một người có khả năng xuất chúng. Sự nghiệp làm ăn bà gây dựng nên tưởng như thành công, cuối cùng cái gì cũng thất bại. Đường chồng con cũng xấu. Tuổi còn trẻ mà trông như một bà già. Bác sĩ nói cơ thể của bà già trước tuổi đến hai chục năm.

Khi được hướng dẫn trở về kiếp trước thì thấy bà là một hồng y trong Tòa Án Dị Giáo (The Inquisition) do giáo hội La Mã Thiên Chúa chủ trì để trị tội những người ngoại đạo. Sự việc này làm đức hồng y (tiền thân của bà) rất đau khổ. Ngài biết trị tội những người ngoại đạo là sai lầm, nhưng đó là việc giáo hội muốn làm. Khi được hỏi tại sao bà trở thành công cụ chính trong Tòa Án Dị Giáo thì bà buột miệng nói rằng, “Đó là để cải tổ lại giáo hội vì giáo hội thời ấy quá hủ hóa, và tôi được giao trọng trách này”. Qua những chuyện tương tự, tôi thấy rằng những việc làm khủng khiếp đều có mục đích riêng.

Vicki Mackenzie: Đứng trên góc độ này, nghiệp báo trở nên khúc mắc, ly kỳ khó hiểu, phải không thưa bà? Vì nếu quan niệm những kẻ phạm tội ác chỉ là những công cụ giúp người kia trả nghiệp thì họ đâu có tội lỗi gì?

Hazel Denning: Thật ra thì cũng khó nói lắm. Trùng trùng duyên khởi, cái nọ xọ cái kia, khó mà giải thích chữ nghiệp một cách rốt ráo. Mọi vật hiện hữu trên đời đều phụ thuộc tương tác lẫn nhau, chúng nương nhau mà sống. Nói một cách giản dị, có thể lấy ví dụ của một người chỉ thấy hạnh phúc trong sự đau khổ (masochist) có thể thỏa mãn nhu cầu của một người chỉ thấy vui sướng trên sự đau khổ của kẻ khác (sadist). Hai loại người này nương tựa vào nhau mà sống. Không có cái gì xấu hoàn toàn. Mỗi kinh nghiệm là một bài học. Ta có thể là thủ phạm làm điều ác trong một kiếp nào đó nhưng cũng có thể là nạn nhân trong một kiếp khác. Và cứ như thế, con người sống từ đời này qua đời khác cho đến khi nào họ học được bài học.

Tôi tin rằng chính chúng ta tự chọn con đường mình đi, dễ dàng hay chông gai là cũng do mình. Một khi mình nhận chân được sự thật đó và chấp nhận mục đích của đời sống hiện tại thì hoàn cảnh chung quanh có thể thay đổi. Nếu một người biết nhận trách nhiệm của mình thì người đó có thể giải quyết được nhiều vấn đề. Còn những kẻ ngu muội không biết nhận trách nhiệm của mình mà cứ đổ lỗi cho người khác thì họ chưa sẵn sàng thay đổi. Chúng tôi, bác sĩ chuyên môn, phải thấy và biết rõ điểm này.

Khi đạt đến mức tỉnh thức tối thượng thì linh hồn (the soul) tự dưng hiểu thấu mọi lẽ – hiểu được mình là ai, tại sao mình hiện hữu ở đây; thấy những gì mình đã làm trong kiếp trước, và những gì mình sẽ làm về sau này vân vân và vân vân. Nhưng chính cá nhân người đó phải tự mình học hỏi. Và tôi cũng không hiểu lý do tại sao chúng ta phải học hỏi nhiều quá như vậy, nhưng tôi không phải là người tạo ra những quy luật ấy mà chỉ tìm cách phân tích lý giải chúng thôi.

Có người thật sự không muốn thay đổi hoàn cảnh không mấy tốt đẹp của mình như chuyện một bà nọ sinh ra với hai con mắt gần như mù. Bà phải đeo mắt kiếng dầy cộm. Sau khi soi căn, bà biết rằng chính bà muốn mắt mình như thế để ít thấy những phù du vật chất, để quên cái ngã của mình, để quay nhìn vào bên trong. Từ đó, bà vui vẻ với cặp mắt gần như mù của mình và không chịu tìm cách làm cho mắt sáng hơn.

Vicki Mackenzie: Bà có thấy ai chọn trở về gần gũi với những người họ quen biết từ nhiều kiếp trước không?

Hazel Denning: Có, Nhưng vai vế thì thay đổi. Có người tái sanh với nhau để giải quyết nhiều vấn đề còn dang dở. Có người muốn trở lại để giúp đỡ những người thân. Tôi cho rằng các thánh tử đạo, hay những người chọn cái chết vì chính nghĩa là họ tự nguyện làm như vậy để thức tỉnh lương tri của nhân loại. Cho nên nói rằng nghiệp báo chỉ thể hiện như một sự trừng phạt thì không đúng, cũng có nghiệp dữ, nghiệp lành. Đó là luật nhân quả.

Tôi có quen biết một bà bác sĩ, một người đàn bà rất dễ thương mà lấy một ông chồng dễ ghét nhất trần gian. Khi nào ông cùng mè nheo, gắt gỏng, độc ác mà chính ông không cố tình độc ác. Dần dần, bà chán nản không còn thương chồng nữa. Nhưng không bao giờ bà có ý định ly dị.

Một hôm bà đến xin soi căn và thấy rằng bà đã gặp ông này ở một kiếp trước khi ông là một linh hồn lạc lỏng. Bà hứa kiếp sau sẽ lấy ông làm chồng và sẽ giúp ông tìm lại linh hồn mình. Và sau đó thì bà thay đổi thái độ, thật tình yêu thương ông, dịu dàng kiên nhẫn với ông và chỉ một năm sau thì ông cũng đổi tính. Ông đi nhà thờ với bà, ông lái chiếc xe sport màu đỏ rong chơi khắp phố phường. Ông nói năng vui vẻ, hài hước ai cũng thích.

Tôi dùng câu chuyện này để khuyên răn những gia đình có chồng nghiện rượu. Tuy người vợ tha thứ sự nghiện ngập của chồng nhưng tình cảm đối với chồng thì đã sứt mẻ. Tôi nói với họ rằng. “Nếu chị thật tình thương yêu và muốn cải hóa chồng thì chị không nên dùng giọng lời gay gắt với chồng mà nên bộc lộ tình thương, ăn nói dịu dàng thì ông sẽ thay đổi”. Có nhiều bà nghe lời và đã thành công.

Vicki Mackenzie: Bà cho biết sau khi chết, hồn có một thời gian nhất định để đi đầu thai không?

Hazel Denning: Có người tái sanh trong vòng vài tiếng đồng hồ sau khi chết, nhất là lính tráng chết ngoài trận mạc. Họ không chịu được cảnh hồn họ lang thang. Họ muốn nhập xác liền. Có lẽ lý do này giải thích được hiện tượng thiên hạ sinh đẻ nhiều sau những trận chiến tranh. Có nhiều người thì mấy trăm năm sau mới tái sanh. Có nhiều linh hồn từ thời Atlantean Age mà bây giờ mới trở lại trần gian. Có lẽ họ chờ đúng thời cơ để đem những hiểu biết mới giúp cho sự chuyển tiếp qua thời đại mới. (New Age).

Vicki Mackenzie: Có khi nào bà đã gặp những người đã từng sống ở hành tinh khác hay cõi giới khác không?

Hazel Denning: Thỉnh thoảng cũng có. Rất nhiều người cho rằng hạ giới là hành tinh thấp nhất trên cột luân hồi (the totem pole). Có mấy người nói rằng trước kia họ sống trên một hành tinh khác. Có một ông viết một thứ chữ lạ hoắc rồi dịch lại tiếng Anh. Ông nói hành tinh ấy có một văn hóa khắc hẳn. Ông còn nói khi ấy ông hiểu được “nguyên lý đồng thời” – hiện tại, quá khứ và vị lai đều đang thể hiện ở giây phút này. Thật là khó hiểu.

Vicki Mackenzie: Bà có biết những kiếp trước của bà không?

Hazel Denning: Có chứ. Đời trước kiếp này của tôi rất lạnh lẽo. Tôi là một phụ nữ sinh ra ở nước Anh, lấy chồng là một người làm ngoại giao giàu có, nhà cao cửa lớn, có nhiều gia nhân hầu hạ, tiệc tùng liên miên nhưng tôi rất cô đơn, sống không có tình thương. Khi gần chết, tôi còn nhớ gia nhân rón rén bước không dám gây tiếng động, tôi đã nắm tay em gái tôi và nuối rằng, “Nếu chị được sống lại từ đầu, chị sẽ thương yêu nhiều hơn”.

Và trong đời này, một em gái tôi chết lúc chín tuổi, tôi mới mười một tuổi. Tôi đã thương khóc em trong hai năm. Tôi cần kinh qua sự đau khổ như vậy mới lấy lại được cảm xúc bình thường.

Nhưng kỷ niệm khó quên nhất xảy ra lúc tôi đang ở trong phòng tắm. Tôi bị đau gan từ lúc học lớp tám. Tôi hay bị những cơn đau túi mật hành hạ, đau đầu đến buồn nôn làm tôi khổ sở lắm. Hồi trước tôi cũng hay nóng nảy. Có hôm cơn giận nổi lên khiến hai mạch máu nhỏ ở cổ bị đứt. Có nhiều lúc tôi có cảm tưởng như cơn giận làm chóp đầu của tôi có thể bay đi mất. Nhưng không ai biết vì tôi không để lộ ra ngoài. Cách đây chừng mười năm, một hôm tôi đang tắm dưới một vòi sen thì cơn nhức đầu kéo tới. Tôi dằn giọng nói lớn, “Chúa ơi, tôi muốn biết tại sao tôi bị bệnh gan hành hạ, tại sao tôi phải chịu đau khổ như thế này?” Vừa dứt lời bỗng nhiên tôi thấy mình là một người lính theo Thập Tự Chinh thời Trung Cổ, vừa bị một giáo xuyên qua gan. Tôi tức giận sắp phải chết vì một “chính nghĩa” mà tôi không còn tin tưởng nữa. Tôi chán ghét những việc chúng tôi đang làm – đốt phá những đền đài đẹp đẽ – nhưng tôi không làm gì được hơn. Tôi biết tôi sắp chết và sẽ không bao giờ thấy lại được người vợ và hai đứa con trai. Tôi chết trong giận dữ, và chứng đau gan bây giờ là biểu hiện của cơn giận xa xưa ấy. Giây phút ấy trong phòng tắm, tôi nghe một giọng thì thầm: “Nguyên do của tính nóng giận của ngươi bắt nguồn ở đây”. Từ ngày đó, tôi không bị cơn đau túi mật hành hạ nữa.

Vicki Mackenzie: Biết được kiếp trước của mình có lợi ích gì trong kiếp sống hiện tại không?

Hazel Denning: Những hiểu biết về kiếp trước kiếp sau giúp tôi sống an nhiên tự tại. Đối với tôi, thế giới kia cũng rất thật như thế giới này. Cho nên khi mẹ tôi mất, rồi chồng và con trai lần lượt qua đời, tôi không đau buồn mấy. Ngày con tôi tử nạn xe mô tô, tôi vẫn tiếp tục đi thuyết giảng tại một trường đại học đã được sắp đặt trước. Khi biết ra, một giáo sư ở trường hỏi sao tôi có thể dửng dưng trước cái chết của con như vậy. Tôi đã trả lời rằng đối với người ngoài thì tai nạn ấy là một thảm cảnh, nhưng đối với tôi thì khác. Tôi biết con tôi là thầy tu trong ba kiếp trước. Trở lại lần này là cậu muốn nếm mùi đời. Cậu sống mau, sống vội, bất chấp nguy hiểm. Tôi biết con trai tôi không muốn kéo dài đời sống như vậy và cậu quyết định rời bỏ cõi trần sớm trước khi chuyện gì xấu có thể xảy ra. Tuy tôi thương tiếc con, và cũng như những bà mẹ khác, tôi vẫn mong được thấy ngày con khôn lớn, nên người v.v… nhưng trong thâm tâm, tôi mừng cho con đã giải thoát vì tôi biết con tôi sống trong đau khổ. Trường hợp chồng tôi cũng thế. Một buổi sáng đang chơi tennis, ông gục chết trên sân cỏ. Sau khi được tin, tôi vào phòng đọc sách gọi điện thoại báo tin cho gia đình và bỗng dưng một cảm xúc kỳ diệu chưa từng có đã đến với tôi. Căn phòng như sáng hơn và ấm áp hơn. Lông măng trên hai tay tôi dựng đứng hết và tôi cảm thấy được an ủi, khích lệ và sung sướng lạ lùng dường như được ôm ấp bởi tình yêu của nhà tôi, khi ấy tôi nghe tiếng ông thầm thì: “Em ơi, anh sung sướng được ra đi như ý muốn”. Tối hôm ấy tôi vẫn đi dự buổi họp ở trường. Tan họp, tôi mới báo cho mọi người biết tin và ai cũng xúc động thương tiếc làm tôi phải đi an ủi từng người.

Khi người thân qua đời thì đau buồn là chuyện thường tình, nhưng tôi không chịu được cảnh người ta tỏ ra bi thương thái quá, vì như vậy chứng tỏ họ có mặc cảm tội lỗi gì với người chết.

Vicki Mackenzie: Theo như bà nói thì mọi chuyện xảy ra đều có lý do? Và cuối cùng thì cũng đưa đến sự tốt đẹp?

Hazel Denning: Đúng thế… Tôi cho rằng con người được sinh ra với một trí tuệ sáng tạo vô bờ mà chúng ta đã ngu muội không thông hiểu, đã phá hoại và lãng quên những khả năng ấy. Thời đại này là thời đại chúng ta có thể trở về với bản năng chân thật của chúng ta.

*

Cũng giống như những mẫu đối thoại với các vị “gurus” Tây phương khác về luân hồi, buổi nói chuyện với Dr. Denning thật là hứng thú. Những điều tôi học được ở bà cũng như ở nhiều nhà chuyên môn khác về kiếp trước kiếp sau cũng không khác những điều tôi đã được nghe mấy Lạt Ma của phương Đông giảng dạy. Chi tiết về trường hợp tái sanh có thể khác nhau nhưng chân lý thì chỉ có một, là chân lý mà Lama Yeshe và Lama Zopa đã nói cho chúng tôi nghe trong chiếc lều trên sườn núi của Kopan rằng sau khi chết sẽ có một đời sống khác; rằng đời sống kế tiếp như thế nào là do nghiệp báo của bao đời trước quyết định; rằng trạng thái tâm thần khi hấp hối đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến đời sau; rằng người ta thường trở lại sống với những người có nghiệp duyên với chúng ta; rằng những đau khổ của đời này là chính chúng ta tạo ra v.v… Không nên oán ai, đổ lỗi cho ai vì chính mình vẫn luôn luôn làm chủ đời mình.

Hoàng Mai Đạt: Những Buổi Cầu Siêu ‘Dễ Thương’ Ở Riverside

(Đăng trên trang https://hoangmaidat.wordpress.com)

Westminster, 20 tháng Giêng, 2011

Thời gian gần đây tôi nhận thấy mình đang có những biến đổi trong cách suy nghĩ và thói quen. Cơn khủng hoảng tâm lý của tuổi trung niên như một quái khách bỗng đến cầm gậy quất đổ những thành quách, lâu đài mà tôi đã khổ công gầy dựng trên bãi cát, tôi biết vậy. Tôi buông trôi để xem thử dòng đời sẽ đưa mình về đâu, đến đâu, khi mà những đền đài kia đã đổ nát, tan hòa vào những đợt sóng bất tận của đại dương.

Trong những đổi thay đó có những điều mà ba-mươi năm trước đây tôi không thể tưởng tượng sẽ xảy ra cho mình. Chẳng hạn như bớt uống bia, bớt xem thể thao trên TV, bớt thèm ăn ngon, bớt coi trọng chức tước, bớt nhìn vợ với một nụ cười cầu… tình. Chẳng hạn như lìa xa bạn bè, chán chường những bữa tiệc bên những vỏ bia cạn chỉ để tán tụng, tranh cãi, tuyên dương, gây gỗ lẫn nhau đến quá nửa đêm. Chẳng hạn như không ngó ngàng đến những sinh hoạt văn chương mà tôi từng mê thích, thậm chí không còn tin ở chữ nghĩa. Cây gậy của quái khách quả đáng khiếp sợ, quất tôi tơi bời, ê ẩm mình mẩy.

Mấy mươi năm trước tôi chắc chắn không thể mường tượng mình sẽ “bớt” quá nhiều lạc thú để tập những thói quen mới mà tôi từng cho là tầm thường, chẳng đáng để một đấng nam nhi với chí khí bốc cao ngút tận trời xanh phải bận tâm trên con đường tạo lập sự nghiệp, tiền tài. Chẳng hạn như thắp nhang khấn nguyện cho ba má được vãng sanh tịnh độ vào mỗi buổi sáng, cầu phước cho những vong linh còn vất vưởng ở chốn ta bà vào mỗi ngày rằm. Chẳng hạn như ngồi cả buổi theo dõi những ý tưởng tâm linh có lúc sáng tỏ tưởng nắm bắt được trong lòng bàn tay, có lúc huyền ảo như bóng mây biến dạng trên mặt nước. Chẳng hạn như thường ghé chùa lễ Phật, khấn xin giữ được lòng từ tâm đối với những kẻ kém may mắn đang sống vất vưởng như những bóng ma giữa cõi người.

Nói là tôi đang tu để thoát luân hồi thì thật quá đáng. Tôi thấy xấu hổ vì nhận biết mình chưa đủ trình độ, chưa có chút tư lương nào để khởi đầu một cuộc hành trình kéo dài “a tăng kỳ kiếp” đó. Tâm tôi còn dao động như một người không ngừng quay đầu trong lúc xem một cuộc diễn hành Tết trên đường Bolsa. Có lúc tôi hò hét ầm ĩ theo một đoàn binh diễn hành rầm rộ, có lúc cười hi hô với một nhóm múa lân náo nhiệt, đôi khi vỗ tay tán thưởng một chính trị gia cười với đám đông để cầu… phiếu, và rồi chợt buồn khi thấy chiếc xe hoa cuối cùng vừa quẹo mất hút ở một góc phố, trả lại con đường Bolsa cho những dòng xe bon chen thường nhật.

Nhưng cũng có lẽ đúng là tôi đang tu, muốn níu lại cái tâm cho nó đừng bay nhảy theo những cảm xúc khởi động từ thế giới bên ngoài. Từng ngày, tôi quay gót xa dần những biến cố náo nhiệt ở dưới phố Little Saigon, nhưng công việc viết tin cho đài truyền hình để kiếm sống không cho phép tôi dứt hẳn với những huyên náo của cộng đồng. Có lúc tôi nản lòng, dừng xe ngưng nghỉ bên đường, nửa muốn đi tiếp để khỏi phí một cuộc đời chỉ dành cho dục vọng, nửa muốn quay về với nếp sống náo động như hầu hết mọi người để tránh một cảnh huống cô độc vốn đã dành sẵn cho một người viết.

Nếu không có những trợ duyên ở dọc đường thì có lẽ tôi đã quay về từ lâu, đành an phận chấp nhận buồn vui trong một đời người mà lòng vẫn hoài nghi, thao thức cho những đời sau. Trợ duyên lớn nhất giúp tôi đi tiếp trên con đường còn xa tít mù khơi xuất phát từ người bạn đời mà cũng là một bạn đạo thân thiết nhất của tôi, và từ những món quà chan hòa đạo vị, như mấy dĩa giảng pháp mà bác Mật Nghiêm từng hoan hỉ mang đến nhà cho, như những cuốn sách mà anh Vĩnh Hảo từng thân ái trao tặng trong vài lần gặp hiếm hoi. Lẽ đương nhiên mấy người bạn lành này, ngoại trừ vợ tôi, chưa ai ngồi với tôi ở bàn nhậu bao giờ. Họ sống quanh quẩn ở đâu đây trong cuộc đời mà đến nay tôi mới nhận ra họ là cơ duyên giúp cho tôi có thêm “xăng” để hăng hái lái chiếc xe ì ạch trên con đường tu tập.

Một trong những người bạn mà tôi từng cho là không “lành,” cần né thiệt xa để khỏi phải trôi lăn tiếp trong mấy bữa nhậu là anh Cao Xuân Huy. Đến khi cầu siêu cho anh, tôi mới nhận ra anh cũng là một trợ duyên trên con đường tu tập còn xa thẳm của mình. Nói anh Huy không “lành” là mang tội khá lớn chứ không vừa, ở tù vài năm chứ không ít. Anh là một trong những người hiền lành nhất trong đám bạn văn nghệ của vợ chồng tôi. Ít khi nghe anh nói xấu người khác. Thay vì trả lời một câu có thể gây phật lòng người nghe, anh chỉ im lặng cười trừ, không nói gì thêm. Có lần gặp anh ở một bữa tiệc, vợ tôi nói, “Tụi em quí anh lắm, xem anh như một bồ tát. Hiền quá, ai nói gì cũng kệ. Không giận ai, chỉ cười.” Lần ấy anh cũng cười làm như mắc cở trước một lời khen quá đáng, nhưng cũng vuốt nhẹ chòm râu dưới cằm trong lúc cười tươi, lộ hai gò má tròn quay, ra vẻ hiền lành như một ông đạo sĩ.

Cũng vì chuyện “nhậu” mà dạo sau này anh Huy bị tôi “chê” không “lành.” Như đã trình bày, tôi đang hướng tới một chân trời mới mà trong đó không có bia rượu. Vì vậy tôi đành từ bỏ những bạn văn nghệ vì họ thường tụ tập ăn nhậu. Ngồi gần các bạn mà không ực một chai bia thì không được, kỳ lắm, mà đạo lực mình còn yếu thì không thể nào cưỡng nổi trước sự quyến rũ ngay trước mắt. Biết mình có khuyết điểm như vậy nên tôi phải cắt đứt mối quan hệ với đám bạn văn chương, viện đủ lý do để không đi nhậu. Ban đầu tôi còn khổ tâm, nghĩ rằng mình đã phụ lòng dăm người bạn vốn đã không nhiều. Thế nhưng sau này sự việc cũng trở nên dễ dàng hơn vì chẳng còn ai thèm rủ tôi đi uống bia. Bạn giận cũng đành chịu.

Thế nên tôi đã không gặp anh Huy trong hơn một năm trời cho đến ngày anh sắp mất. Tình bạn giữa anh với tôi có lúc đậm đà như câu chuyện bên ly cà phê đen mà anh chia sẻ với các bạn mỗi cuối tuần ở một cái quán nào đó, có lúc lạt như nước trà mà chủ nhà mời khách uống cho dã rượu trước khi lên đường.

Thời gian “đậm” là lúc chúng tôi cùng làm việc tại đài Little Saigon Radio. Thật ra khoảng mười năm trước đó chúng tôi cũng đã “đậm” với nhau rồi. Trong mấy tháng làm việc cho tuần báo “Diễn Đàn” năm 1993,  anh Huy lãnh phần trình bày những trang báo, tôi lo viết tin. Báo phát hành được vài tháng thì dẹp tiệm. Có lần nhắc đến thời gian làm báo ngắn ngủi ấy, anh cười hóm hỉnh, khề khà, “Tao với mày từng làm cùng sở.” Anh luôn “mày, tao” với tôi như anh cả với em út ở trong nhà.

Tan “sở” Diễn Đàn, tôi khăn gói qua đài Little Saigon Radio, để rồi mười năm sau gặp lại anh ở “sở” mới ấy. Lần này anh cũng giữ chân layout cho tuần báo Việt Tide phụ thuộc đài phát thanh, cộng thêm việc diễn đọc một chương trình hàng tuần cho đài nơi mà giọng diễu “cán bộ Bắc Kỳ” của anh được trưng dụng tối đa, thu hút một lớp thính giả trung thành hằng tuần.

Thời gian anh làm cho đài cũng là lúc chúng tôi gần nhau nhất. Gần một phần vì anh đang giữ vai trò chủ bút tờ Văn Học. Anh ngồi trong phòng báo ở phía trước đài, tôi ngồi trong góc ở sau đài. Hầu như ngày nào anh cũng ló đầu vào ô làm việc của tôi, chỉ hỏi gắt một câu, “Bài đâu?” Trong mấy năm cuối của tờ Văn Học, tôi nhận viết hai mục tạp ghi và giới thiệu sách. Có lúc bận quá, không thể viết bài, muốn xin ngưng một kỳ, tôi vẫn bị anh hối thúc, không buông tha.

“Có đưa bài không thì bảo, tao đánh chết bây giờ,” anh gằn giọng, nhíu mày như đang nhập vai một ông cán bộ hách dịch uy hiếp một ông tù cải tạo.

“Anh mà đánh được ai. Súng gãy cong queo mà cũng bày đặt làm tàng,” tôi thường mang tựa sách lẫy lừng của anh ra để đối phó trong những lúc “bí” quá, không biết nói sao trước một ông anh nổi tiếng là một trung úy đại đội phó ngang bướng trong Thủy Quân Lục Chiến, từng xông pha đánh giặc ở Quảng Trị nhưng đành thúc thủ cùng các đồng đội ở cửa biển Thuận An trước sự bỏ rơi của cấp trên và mũi súng của quân thù. Cho đến nay cuốn “Tháng Ba Gãy Súng” của anh vẫn là một trong những cuốn hồi ký có giá trị, trung thực nhất liên quan đến cuộc chiến Việt Nam. Tôi thuộc thế hệ sinh sau anh hơn chục tuổi, chưa dính dáng đến quân đội, nhưng cũng mủi lòng trước cảnh bi thương “gãy súng” của những người lính trận khi tàn cuộc chiến.

Sau ngày rời đài Little Saigon Radio, tôi gặp anh vài lần trong mấy bữa nhậu, trao đổi dăm ba câu thăm hỏi để biết đôi bên vẫn còn sống ngắc ngoải trong làng báo. Một buổi chiều kia anh gọi tôi đến nghĩa trang lớn nằm bên cạnh khu phố Bolsa. Lẽ đương nhiên lúc ấy anh còn sống. Chẳng hiểu sao bữa hôm ấy anh và xướng ngôn viên Ngọc Ân lại thực hiện một chương trình cho đài truyền hình Hồn Việt, muốn tìm “hồn” ở những ngôi mộ của các văn thi sĩ qua đời ở hải ngoại. Vì biết tôi từng viết bài “Tìm Ở Sao Trời,” họ réo tôi đến nghĩa trang để kiếm giùm mộ ông Mai Thảo và mộ anh Nguyễn Tất Nhiên. Ra đến nơi tôi gặp anh Huy, Ngọc Ân, một chuyên viên thâu hình, và anh Trần Như Hùng từ bên Úc. Thấy anh Huy cười nói lè nhè, câu trước đè lên câu sau, mặt đỏ hồng, tôi biết anh đã say. Ở mộ anh Nhiên, anh Huy khui chai rượu mời thi sĩ, tâm sự “mày, tao” một hồi với bức hình của một chàng trai có đôi mắt chiếu thẳng vào người đối diện.

 Anh Huy cũng mời tôi uống nhưng tôi từ chối. Sau đó tôi hướng dẫn cả bọn đến hai  ngôi mộ của thi sĩ Nguyên Sa và học giả Đào Mộng Nam nằm bên cạnh nhau. Anh Huy lại uống thêm vài hớp cho họ. Đi quanh quẩn một hồi, cả bọn chia tay và rời nghĩa địa trước khi trời tối.

Hơn một năm sau tôi nghe tin anh lâm nguy trước cơn bệnh ngặt nghèo, khó thoát bàn tay của tử thần. Vợ chồng tôi đến thăm anh vào một buổi tối thứ Năm, khá trễ sau giờ đi làm. Người tiếp chúng tôi ở cửa là anh Trần Như Hùng từng gặp ở nghĩa trang năm trước. Nghe bạn lính bị bệnh nặng, anh Hùng bỏ hết công việc ở bên Úc, vội vàng bay qua Nam California để phụ giúp chị Minh cùng hai con gái của anh Huy. Anh Hùng giữ nhiệm vụ “kiểm tra an ninh,” không cho khách đến quấy rầy người bệnh. Anh đề nghị chúng tôi vào thăm thật nhanh, tránh đánh thức anh Huy dậy. Trong căn nhà khang trang, ngăn nắp ở Lake Forest, anh Huy nằm thiêm thiếp trong một phòng mờ tối với cô con gái ngồi kề bên để theo dõi cha. Chị Minh lúc ấy đã ngủ sau một ngày dài mệt đừ với công việc săn sóc chồng và tiếp bạn đến thăm.

Tôn trọng người bệnh và gia đình, tôi đứng lấp ló ở hành lang nhìn vào phòng tối, chỉ thấy đôi chân gầy guộc dưới tấm mền được vén lên. Vợ tôi đứng ở ngưỡng cửa, thấy anh đang thiếp ngủ. Anh Hùng tiếp chuyện với chúng tôi thêm một hồi lâu gần phòng khách. Trong hơn mười phút hàn huyên đó, tôi không thật sự để ý đến những gì vợ tôi và anh Hùng nói về bệnh tình, cách chữa trị cho anh Huy. Tôi chỉ lắng nghe sự tĩnh lặng trong không gian tranh tối tranh sáng ở hành lang hướng vào phòng người bệnh. Nghĩ đến đôi chân gầy bất động, tôi bất giác khấn nguyện trong lòng cho anh được ra đi êm ả với đôi chân ấy, như tôi vẫn thường cầu nguyện cho những vong linh còn vương vấn ở cõi người vào mỗi đêm rằm. Hãy rời cõi ta bà của khổ đau. Hãy đến một cõi bình yên trong ánh sáng của tâm thức. Hãy nhận lời cầu nguyện chân thành này như một món quà tiếp sức trên một hành trình mới. Tôi nhìn vào hành lang như mong cho ý nguyện được vang vọng đến tận căn phòng thiếu ánh đèn kia.

Đêm hôm ấy chúng tôi lặng lẽ rời ngôi nhà ở đường Briarcroft, lái xe lên hướng bắc trên xa lộ 405, băng qua phố khuya Bolsa trên lộ trình về nhà. Qua chiều thứ Sáu hôm sau chúng tôi được tin anh Huy mất. Mặc dù không tin anh đã nghe lời khấn nguyện, tôi cũng cảm nhận có một mối liên hệ nào đó giữa tôi với anh trong cõi tâm linh mà tôi chưa đủ khả năng để nắm bắt.

Đám tang của anh lớn lắm. Bạn bè kéo về đông vô kể. Những bạn văn đến nhiều đã đành, mà những cựu đồng đội Thủy Quân Lục Chiến cũng chiếm hết chỗ đứng trong buổi lễ hỏa táng ở Peek Family. Vợ chồng tôi ghé nhà quàn vào một buổi trưa đúng giờ bắt đầu thăm viếng. Chúng tôi rời trước khi những người thân, bạn văn, bạn nhậu, bạn lính, bạn làm báo, bạn ở quán cà phê đến mỗi lúc một đông. Anh quả là một người sống tốt với các bạn, được họ tiễn đưa với nhiệt tình trong bầu không khí trang nghiêm mà cũng có phần náo động. Tôi nghe kể có người còn cao hứng mang rượu đến uống say khướt để từ giã anh Huy một lần chót.

Lúc ấy tôi có nghĩ đến việc tiễn đưa anh theo một cách riêng, thầm lặng hơn. Cầu siêu cho anh ấy.

Nói đến chuyện cúng kiến, tụng kinh thì tôi “quê” lắm. Mang tiếng là một Phật tử mà trong nhiều năm tôi ít ghé chùa. Mấy năm sau này, một phần vì có thờ cha mẹ vợ và cha ruột ở chùa Phổ Đà, một phần vì đi dự đám tang của những người quen hơi nhiều, nay người này mất mai người kia đi, tôi nghĩ đến chùa thường hơn. Những lúc lái xe tạt ngang chùa, biết giờ ấy vắng, tôi chạy vào lễ Phật, chiêm bái Ngài vài giây, có khi còn sờ đùi tượng Phật một cách âu yếm như người ta sờ bụng ngài Di Lặc lấy hên.

Cũng có những buổi chiều đi ngang một ngôi chùa nào đó, gặp đúng giờ tụng kinh, tôi thường tắp vào nghe. Tiếng tụng kinh ê a đều đặn cũng hấp dẫn mặc dù tôi không hiểu họ tụng kinh gì, có ý nghĩa ra sao. Một buổi chiều kia ghé chùa Dược Sư, đúng giờ tụng kinh của một ni sư. Tôi rón rén tháo giày theo vợ vào nghe. Giọng của ni sư thanh thoát, ngân vang tỏa khắp một chánh điện cao rộng theo tiếng gõ mõ đều đặn. Tôi nhắm mắt thả hồn theo thanh âm của lời kinh vang vọng, cảm tưởng như đang bay bổng nhẹ nhàng ở một chốn nào đó.

Nghe kinh như vậy là quá ít, mà tụng thì hầu như không. Không hiểu có phải vì “mầm” đạo trong tôi đã bắt đầu trồi lên mặt đất để nẩy nở hấp thụ khí trời theo lẽ tự nhiên, dạo này tôi hay hỏi vợ về những quyển kinh mà nàng thường mở đọc ở nhà. Nghe chồng thắc mắc với vẻ thán phục, vợ cũng ráng giảng giải nhưng chàng với “căn cơ” quá thấp nên cũng không thể nào hiểu hết. Tôi bắt đầu đọc sách đạo, thường chú ý đến những đoạn giải thích hương linh của người mới mất cần được dứt bỏ những vướng mắc ở cõi trần để được siêu thoát. Có lẽ vậy nên lúc rời nhà quàn trưa hôm ấy, tôi nghĩ đến việc cầu siêu cho anh Huy như một hình thức tiễn biệt chân thành nhất mà tôi có thể làm được. Còn có những thôi thúc khác nữa mà tôi chỉ cảm nhận nhưng không sáng nghĩa, khích lệ tôi hãy đến chùa để tụng kinh.

Vài ngày sau lễ hỏa táng, tôi gọi nhắn chị Minh mấy lần để hỏi địa điểm tổ chức lễ cầu siêu bốn-mươi-chín ngày. Không nghe chị trả lời, tôi quay qua gọi số cũ của anh Huy, vừa gọi vừa sợ “nhỡ không may” nghe anh lên tiếng. (Mới biết tu nên tâm còn sợ). Cũng không ai hồi âm lời nhắn trong máy. Quận Cam có rất nhiều chùa, biết hỏi nơi đâu? Hai tuần trôi qua. Bữa kia nghe tôi nhắc chuyện tụng kinh, vợ tôi bèn gọi số chị Minh và nhắn trong máy. Một hồi sau chị hồi âm.  (Vợ tu khá hơn tôi nên gọi linh lắm). Nghe vợ tôi ngỏ ý muốn dự cúng thất, chị nói ngay, “Chùa ở xa, mà nhỏ xíu hà.” Dường như chị dè dặt một chút nhưng rồi cũng đọc cho nàng địa chỉ của một ngôi chùa ở Riverside.

Không hiểu sao tôi mừng khấp khởi khi thấy vợ viết địa chỉ chùa xuống giấy. Mấy phút sau tôi lên Yahoo! tìm bản đồ, chuẩn bị cho ngày Chủ Nhật sắp đến. Đó cũng là Chủ Nhật đầu tiên của tháng 12, tuần cầu siêu thứ ba cho anh Huy. Buổi sáng hôm ấy tôi dậy sớm như thường lệ, nôn nao chờ đến 10 giờ để đi chùa. Lễ bắt đầu lúc 11 giờ, chùa nằm cách xa khu phố Little Saigon khoảng một tiếng đồng hồ lái xe lên hướng đông bắc.

Chùa Văn Thù nằm cuối đường Weaver, gần phi trường của Riverside. Trước khi đến ngôi chùa nhỏ này, chúng tôi băng ngang hai cơ sở vĩ đại của hai hội Thiên Chúa Giáo. Tôi thấy vĩ đại vì bãi đậu xe của mỗi nơi có thể chứa hàng trăm chiếc xe, lớn như một khu thương xá. Buổi sáng Chủ Nhật cũng là dịp đi lễ nhà thờ, nên bãi đậu xe của California Baptist University-Riverside ở đầu này đại lộ Adams và của Harvest Christian School ở đầu bên kia đều chật cứng xe. Người ta đi lễ nườm nượp như đi mua sắm mùa Nô-En. Nằm khép nép ở cuối một ngõ cụt, khu đất sau chùa Văn Thù chứa chừng mười chiếc xe. Có thêm khách thì xe phải đậu ở ngoài đường. Coi chùa nhỏ vậy mà có chí lớn, tôi thầm nghĩ sau khi nghe vợ nhận xét rằng chùa lấy tên Văn Thù có lẽ muốn nhấn mạnh trí huệ, đặc điểm quan trọng nhất của Phật giáo. Dùng trí huệ để đưa con người đến cõi cao nhất của tâm linh.

Chúng tôi đến đúng lúc thầy Quảng Phú vừa bắt đầu buổi lễ. Chánh điện đặt trong một phòng nhỏ, chỉ đủ chỗ lễ Phật cho một chục người. Vì có đến hơn hai mươi người đứng dồn vào nhau, nhất là khi có thêm hai đứa chúng tôi, căn phòng càng thấy chật hơn. Thầy khuyên mọi người đứng xá Phật thay vì lạy để có đủ chỗ hành lễ cho mọi người.

Tôi chưa biết nghi thức cầu siêu, nên thấy vợ ở bên cạnh làm sao thì mình làm y như vậy cho chắc ăn, không bị lạc quẻ với mọi người. Vợ chắp tay niệm Phật, tôi cũng chắp tay niệm Phật. Vợ quì tôi cũng quì, vợ đứng tôi cũng đứng, vợ nhắm mắt tôi cũng nhắm mắt nhưng luôn hé nhìn để biết lúc nào cần bắt chước một động tác mới. Vợ đọc một bài kinh gì đó theo mọi người, tôi cũng làm bộ đọc nhưng chỉ mấp máy đôi môi. Đến chùa chỉ biết mỗi câu “Nam Mô A Di Đà Phật” nên khi nghe mọi người vừa bắt đầu đọc câu đó, tôi bèn đọc lớn làm như mình cũng thuộc kinh như ai. Dễ nhất là lúc nghe gõ chuông. Mỗi lần nghe tiếng chuông thì chắp tay cúi đầu xá Phật.

Đến phần nghi thức Cúng Ngọ thì mấy Phật tử “đến chùa lai rai, ăn chay sơ sài” như tôi cũng đỡ khổ nhờ mấy cuốn kinh được phân phát để mọi người cùng tụng theo. Nhờ vậy tôi cũng biết sơ qua các bài kệ Cúng Hương, Chú Đại Bi, Bát Nhã Ba La Mật, Cúng Dường và Tam Quy Y. Sau phần lễ chung dài một tiếng đồng hồ, thầy giảng một bài pháp ngắn về nội dung tránh nói những lời độc hại hoặc nghĩ xấu đối với người khác, vì làm như vậy chẳng khác nào “đóng những cây đinh vào cột để rồi một ngày kia cho dù đinh được gỡ ra vẫn còn để lại những vết thương sâu đậm trong lòng người.”

Thấy tôi lạ mặt trong số những người dự lễ hôm ấy, thầy liền chiếu cố với câu hỏi rằng “đạo hữu” nghĩ sao về bài giảng. Cũng lạ. Bình thường tôi hay nói ấp úng, không suôn sẻ trước đám đông cho dù chỉ có mấy người. Vậy mà hôm ấy “đạo hữu” tôi lại đột nhiên nói lưu loát, dài dòng như đang… viết tạp ghi. Tôi đáp lời thầy rằng buổi sáng hôm ấy chắc hẳn tôi đã không khỏi có những ý nghĩ “đóng đinh” người khác, nên tôi muốn tự nhắc mình hãy ráng giữ chánh niệm thân, khẩu, ý như lời Phật dạy. Nghe tôi nói vậy, thầy reo cười nói với mọi người, “Chu choa ơi nghe dễ thương không quí vị.”

Ban đầu tôi cũng tưởng lời của mình nghe “dễ thương” ra phết. Ai dè vài phút sau tôi khám phá thầy thường nói “dễ thương” khi nghe những câu hồi đáp của hầu hết mọi người, kể cả trước những lời thổ lộ lòng bất an. Té ra ai đến chùa này cũng đều “dễ thương” hết, một ý niệm mà tôi thích thú đón nhận.

 Sau bài giảng, thầy làm lễ cầu siêu riêng ở bên phòng thờ vong. Vợ chồng chúng tôi cũng quì lễ trước hương linh của người quá cố với chị Minh và hai cháu Chúc Dung, Xuân Dung. Mỗi cháu thay phiên cắm nhang, dâng trà và các món chay trước di ảnh của cha. Hình thờ một anh Cao Xuân Huy quen thuộc với các bạn. Anh cười tươi, nét mặt hồng hào trong bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến với chữ “Huy 4” ghi trên áo. Trong lúc nhắm mắt chắp tay lắng nghe, tôi có cảm tưởng như bài tụng đều đặn của thầy, những lời khấn nguyện riêng thầm của vợ con, của bạn đang dồn hết năng lượng để đưa hương linh siêu thoát theo nhịp gõ mõ, đánh khánh ngân vang đến một cõi tâm linh tưởng chừng như rất gần mà cũng rất xa. Ngay trong giây phút ấy tôi cũng nhận ra thân tâm tôi được bình an, tạm quên hết mọi thứ, chỉ biết nghĩ đến những điều tốt lành nhất cho người khuất mặt. Thì ra kinh cầu siêu cũng giúp cho người sống được an lạc, siêu thoát bên ngoài những âu lo thường ngày. Thêm một điều thú vị mà tôi không chờ đợi trước khi bước vào cổng chùa.

Bữa ăn sau buổi lễ hôm ấy cho tôi thêm hai niềm vui cũng bất ngờ không kém. Lần đầu tiên chúng tôi được thưởng thức món mắm và rau chay với bún mà có lẽ còn ngon hơn mắm và rau với thịt cá. Trời hôm ấy rét lạnh, được ăn món mắm quê hương đậm đà ở sân chùa quả là một kinh nghiệm tuyệt vời mà tôi nghĩ sẽ không có lần thứ hai trong đời. Niềm vui thứ nhì là tôi được gặp lại hai bạn văn Trịnh Y Thư và Nguyễn Ý Thuần. Anh Thư là bạn rất thân với anh Huy, có một thời gắn bó với tờ Văn Học. Riêng anh Nguyễn Ý Thuần, một bạn lính quen anh Huy bay từ San Jose xuống hôm ấy, tôi chỉ nhớ lần cuối gặp anh là hơn hai-mươi năm trước ở một quán nhậu trên đường Bolsa. Anh Thuần vẫn gầy, cao, có phần trắng trẻo hơn so với ngày xưa. Nghe anh nói “Đạt vẫn vậy,” tôi phì cười, nghĩ anh quá lịch sự không nỡ chê tôi dạo này vừa bạc tóc vừa mập tròn.

Chủ Nhật tuần sau tôi cũng đến chùa Văn Thù dự lễ cầu siêu mặc dù không có vợ “dẫn dắt.” Bữa hôm ấy khá đông người vì có một vị hòa thượng từ xa đến làm lễ Vía Phật A Di Đà. Đến phần cầu siêu, tôi chú ý một bài kệ mà vợ từng đọc thuộc lòng với mọi người trong buổi lễ hôm trước. Về nhà, tôi hỏi vợ về bài “kệ” không thấy trong cuốn Nghi Thức Cúng Ngọ. Nàng nói rằng đó là bài “Đảnh Lễ” đơn giản mà ai thường đến chùa cũng thuộc. Biết mấy cuốn kinh ở nhà có bài đó, vả lại bài chỉ có ba phần ngăn ngắn, tôi bỗng muốn học cho thuộc bài ấy.

Đoạn đầu ngắn nhất trong ba đoạn, nên tôi học thuộc trong vòng năm phút. Kể cũng khá giỏi cho một người đã tới tuổi quên trước quên sau, thất lạc những món đồ lặt vặt.

“Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không, biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.”

Đoạn thứ nhì khó nhớ mà đến bây giờ tôi vẫn còn vấp. Học đến đoạn thứ ba thì tôi mừng rơn vì biết sắp hết bài. Buổi tối Chủ Nhật hôm ấy, nhân lúc dắt con Kiwi đi bộ cho cả chó lẫn chủ cùng tiêu mỡ, tôi lâm râm ôn lại bài “Đảnh Lễ” giữa lúc băng qua đường, suýt quên những dòng xe xuôi ngược từ khu phố Bolsa.

Tuần thứ ba đến chùa Văn Thù, tức buổi cầu siêu thứ năm, chúng tôi đến trễ vì một cơn giông tố đang trút mưa ở mức kỷ lục xuống Nam California. Dọc theo xa lộ có những chiếc xe bị tai nạn nằm móp méo bên đường. Vào chùa chúng tôi nghe chị Minh kể anh Huy đã “phù hộ cho mấy mẹ con.” Nghe thêm mới biết chiếc xe do con chị lái đã quay 360 độ trên một đoạn xa lộ mà hầu như chiếc nào cũng bị trượt một vòng rồi tung vào xe khác. Vậy mà xe chị không đụng ai. Bữa hôm ấy tôi có một niềm vui riêng là có thể tự đọc bài “Đảnh Lễ,” không phải nhắp môi theo vợ.

Tuần cầu siêu thứ sáu cho anh Huy, tôi lại đi một mình vì vợ bận đi làm. Hôm ấy vừa sau lễ Giáng Sinh, chùa vắng so với mấy tuần trước. Cũng may là lúc nào ban hộ niệm cũng đông đủ, tụng kinh hùng mạnh với thầy để giúp mấy Phật tử quờ quạng như chúng tôi được nương theo. Lần này tôi muốn chú tâm đọc kinh mạnh theo mọi người để trợ lực cho anh Huy được vãng sanh. Bữa hôm ấy thầy mở đầu bài giảng với lời chào “Merry Christmas” đến mọi người, nghe “dễ thương” vô cùng. Bài giảng nhắc nhở mọi người hãy tặng cho nhau những món quà tình thương.

Rời chùa trưa hôm ấy, tôi nhớ đến một đoạn kinh trong Nghi Thức Cúng Ngọ nghe thầy đọc hơn một chục lần. Về nhà hỏi vợ (cái gì cũng hỏi vợ, thiệt chán), tôi được biết đó là bài Chú Đại Bi mà nhiều Phật tử đã in trên hàng nghìn tấm thẻ nhỏ để phân phát ở các chùa. Mặt ngoài của thẻ có hình Quán Âm Bồ Tát. Vợ tôi cũng có một tấm, đang học thuộc gần hết bài chú ấy.

 Ban đầu tôi cũng tính học nằm lòng, nghĩ rằng mình có thể “hồ hởi xông lên” từ khí thế nhớ hết bài Đảnh Lễ để học thuộc luôn Chú Đại Bi. Thế nhưng Chú Đại Bi dài quá, lại có nhiều mật ngữ nên tôi chịu thua. Kinh gì mà toàn là “Ma ha tát đỏa bà da, Ma ha ca lô ni ca da” với “Án, A bà lô hê, Lô ca đế, Ca ra đế, Di hê rị.” Không hiểu đã đành, mà mặt chữ sao gần giống nhau, khó nhớ thấy mồ.

Hai câu đầu tương đối dễ nhớ, “Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát, Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni,” đến câu thứ ba thì tôi chịu thua mấy chữ Ấn Độ, phải đưa mắt xuống đọc bài chú trên tấm thẻ cầm trên tay.

Tuần thứ bảy cúng chung thất cho anh Huy rơi vào dịp đầu năm 2011. Hôm đó có nhiều người đến dự, kể cả vợ chồng anh Trịnh Y Thư và vài người từ San Jose, và một nhóm năm, sáu ông bạn lính cũ mà cũng là bạn nhậu của anh Huy. Mấy ông bạn ở tuổi trên dưới sáu-mươi-lăm này không vào chánh điện dự lễ mà đứng bên ngoài trò chuyện. Buổi cầu siêu thất tuần là buổi đông nhất mà tôi thấy từ ngày đến chùa Văn Thù. Lần này tôi đọc kinh khá nhuyễn dựa theo sách cầm trong tay, ngay cả bài Chú Đại Bi với những chữ bí hiểm. Có lẽ tụng kinh trong đám đông tạo nhiều năng lực trợ giúp lẫn nhau, nên lời kinh đến dễ dàng hơn chăng?

Mặc dù được nhiều người đọc kinh trợ lực trong suốt bốn-mươi-chín ngày, liệu anh Huy có siêu thoát? Tôi thắc mắc vì trong giờ ăn trưa hôm đó, ngồi cùng bàn với mấy ông bạn của anh Huy, tôi nghe một ông kể rằng mới bữa trước anh ấy đã hiện về để khều chân rủ bạn đi uống cà phê, một ông khác nói anh có ghé để nhắc bạn đi nhậu. Nghe mấy ông bạn kháo nhau chuyện “Halloween” như vậy, chị Minh vừa cười vừa nói rằng chị chẳng thấy anh về nhà một lần nào. Chị không nói thêm mà sao tôi cảm được một niềm tin vững chắc ở nơi chị. Từ ngày đến chùa cầu siêu, chúng tôi mới biết chị Minh thường đi chùa và hành thiền. Trong những lần gặp nhau ở những bữa tiệc trước đây, chúng tôi chưa bao giờ nghe chị nhắc đến đạo. Chỉ biết chị là một người hiền, điềm đạm, an nhiên tự tại. Đến khi anh mất chúng tôi mới biết anh chị theo đạo Phật. Tôi học thêm một tấm gương khiêm tốn ở nơi chị Minh. Buổi cúng chung thất hôm đó cũng là ngày tôi thấy chị vui hơn những bữa trước. Thể nào anh cũng mãn nguyện trước niềm vui của mọi người, để an tâm siêu sanh đến một cõi khác.

Từ ngày hết ghé chùa “dễ thương,” tôi bắt đầu vương vấn những lời kinh và các món chay. Quen ăn chay trong suốt ngày Chủ Nhật mỗi lần đến chùa Văn Thù, tôi bớt thèm thuồng các món mặn. Ngày nào vợ không kịp nấu thức ăn trước khi đi làm, tôi “xin” nàng cho tôi được ăn cơm với rau luộc và một miếng đậu chiên. Tôi viện lý do dạo này bác sĩ yêu cầu tôi phải bớt ăn thịt, trứng. Thay đổi này cũng bất ngờ ngay đối với tôi. Mới mấy năm trước, mỗi dịp rằm hoặc đầu tháng âm lịch nghe vợ báo “Ngày mai mình ăn chay,” tôi thừ mặt lộ vẻ chán chường thấy rõ, rên rỉ “Mới ăn đó mà lại ăn chay nữa sao?” Nay tôi vẫn ăn món mặn nhưng ao ước được thế bằng món rau.

Một vương vấn khác nữa là bài Chú Đại Bi. Tôi vẫn ngán bài chú dài với nhiều chữ khó hiểu, khó thuộc, thầm nghĩ một ngày nào đó nếu có một tín hiệu thì tôi sẽ cố gắng học làu làu bài ấy. Mới nghĩ vậy hôm trước, hôm sau tôi thấy tín hiệu hiện ra ngay trong một bữa ăn. Nói hiện ra không đúng, mà phát ra thì chính xác hơn.

Chiều hôm thứ Bảy vừa rồi, vợ chồng tôi đến nhà thầy Nguyễn Phú và cô Ngọc An, trước để thăm hỏi, sau được ăn cơm “nhà quê.” Thầy Phú từng dạy Việt Văn ở Biên Hòa trước năm 1975, được nhiều học trò cũ quí mến mà trong đó có vợ tôi. Cũng qua tình thầy trò ở những buổi họp mặt của hội cựu học sinh Ngô Quyền, tôi được biết sơ về thầy và cô. Đến thời gian gần đây, đúng lúc tôi đang bị quái khách tuổi trung niên đánh tơi bời, rời xa hết bạn bè, đầu óc đang hướng tới một con đường mới, cô bỗng nhắc thầy rủ chúng tôi đến nhà chơi, trước là cho hai đứa ăn các món mà thầy cô gọi là cơm “nhà quê,” sau nghe tâm sự “chuyện đời tôi” của hai đứa.

Thầy cô Phú sống trong một khu chung cư dành cho cao niên trên đường Garden Grove. Từ cửa sổ của căn hộ 403 nhỏ gọn của cặp vợ chồng lớn tuổi, chúng tôi có thể thấy nhà thờ Crystal Cathedral phản chiếu ánh nắng hoàng hôn bừng sáng giữa khung trời chiều mùa đông. Ngay từ lần đầu mới gặp, tôi cảm động khi biết thầy cô thương chúng tôi, khuyên bảo như con trong nhà. Họ sống khiêm tốn, thanh tịnh, tình nghĩa “trung đạo” như lời khuyên của thầy. Tôi cũng ngạc nhiên khi biết thầy cô có khiếu nấu ăn, rất sành các món ngon miền Nam. Mấy lần ăn ở nhà thầy cô, tôi nhận thấy không có tiệm nào ở Bolsa lại có những món “nhà quê” tuyệt hảo như vậy. Tình thương của họ làm cho tôi có phần thiên vị, tôi biết, nhưng tôi vẫn tin chắc không có tiệm nào ở đây có món ngon như ở nhà thầy Phú.

Như hai lần trước từng đến thăm thầy cô, chiều thứ Bảy hôm ấy chúng tôi cũng ngồi lại mấy tiếng đồng hồ sau bữa ăn chỉ để “tâm sự,” uống trà thầy pha, nhâm nhi những miếng lê mát rượi được cô gọt sẵn cất trong tủ lạnh. Cô mới mổ mắt, cần đeo một cặp kiếng đen che gần nửa mặt để khỏi bị chói ánh sáng. Lúc dẫn khách trong hành lang, thầy đã nhắc cho chúng tôi biết trước như để chuẩn bị tinh thần rằng hôm nay cô thuộc thành phần “xã hội đen.” Đến khi buổi “tứ thoại” quay sang chuyện đạo, cô bỗng kể lại những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời tu theo pháp môn Tịnh Độ mà cô đã bắt đầu từ mấy chục năm trước. Mỗi lần thỉnh được một cuốn kinh, cô xem đó như một dấu hiệu khích lệ tinh tấn trên đường tu.

Nghe đến đó, tôi nghĩ đến bài Chú Đại Bi mà tôi đang bị cản trở, học không vô. Rồi như đoán biết tâm tư u tối của tôi, cô Ngọc An đằng sau cặp kiếng “xã hội đen” bỗng phán một câu, “Hai đứa ráng học thuộc Chú Đại Bi đi, rồi cô sẽ chỉ cho nghi thức tụng niệm hay lắm, linh nghiệm vô cùng.”

Nghe vậy tôi giật mình. Đang ngán chuyện học kinh, tính câu giờ bằng cách chờ một tín hiệu đáng tin cậy thì mới tiếp tục, ai dè tín hiệu đến ngay tức khắc từ một phụ nữ hiền hòa, chất phác nhưng lại rất quả quyết về chuyện tu. Phải chăng cơ duyên đã tới để khuyên tôi hãy cố lên vì mình đang đi đúng đường?

Rời nhà thầy cô, tôi vẫn nghĩ đến lời khuyến khích “tụng niệm hay lắm” của cô, đến những cơ duyên đẩy đưa chúng tôi vào một cuộc hành trình mà tôi đang cảm thấy hứng thú vô cùng. Chỉ mới sau một kinh nghiệm dự lễ cầu siêu lần đầu, tôi học được bài Đảnh Lễ và đang luyện bài Chú Đại Bi. Biết đâu tiếp tục cầu siêu thêm nữa cho người thì chính bản thân tôi cũng sẽ được thêm lợi lạc về tinh thần. Tôi không cầu mong các bạn tôi sớm ra đi để tôi “được” tụng kinh cầu siêu cho họ. Nhưng nếu đến lúc phải rời cõi ta bà này, bạn hãy yên tâm vì tôi sẽ cầu siêu cho bạn với hết khả năng mặc dù còn thấp kém, nếu tôi biết tin bạn mất. Điều đó tôi xin hứa.

Còn chuyện học thuộc bài Chú Đại Bi?

Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha.
Án, tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đà da. Ta bà ha.

Thế nào tôi cũng học thuộc. Ráng. Nếu không thuộc bài thì sẽ không ăn cơm “nhà quê,” sẽ không nhìn vợ, sẽ không viết tạp ghi nữa. Chà, quyết tâm kiểu đó coi bộ không khá. Thiệt thòi mọi mặt. Thôi “thề” lại đi. Nếu không học thuộc tôi vẫn thăm thầy cô nhưng phải làm việc lành mới được ăn món quê, vẫn nhìn vợ âu yếm nhưng phải trong tình bạn đạo, và vẫn viết với tấm lòng thương yêu vô hạn nhưng không được viết dài dòng, khiến người đọc phát mệt.

Chu choa nghe dễ thương không quí vị?

Westminster, 20 tháng Giêng, 2011